TRUYỀN TÂM PHÁP YẾU

GIẢNG GIẢI

H.T THÍCH THANH TỪ

Pháp Yếu Truyền Tâm

Thiền Sư Đoạn Tế Ở Núi Hoàng Bá

 

CHÁNH VĂN:      

 

Sư bảo Hưu rằng:

Chư Phật cùng tất cả chúng sanh chỉ là một tâm, không có pháp riêng. Tâm này từ vô thủy tới nay không từng sanh không từng diệt, không xanh không vàng, không h́nh không tướng, không thuộc có không, không kể mới cũ, chẳng dài chẳng ngắn, chẳng lớn chẳng nhỏ, vượt qua tất cả hạn lượng danh ngôn dấu vết đối đăi, chính thẳng đó là phải, động niệm liền trái.

 

GIẢNG:

 

Chư Phật cùng tất cả chúng sanh chỉ là một tâm, phải hiểu chữ một tâm này cho rơ, đừng bị lầm. Phật với chúng sanh chỉ có một tâm, nếu Phật giác ngộ lẽ ra chúng sanh cũng giác ngộ, nhưng tại sao Phật giác ngộ mà chúng ta lại không giác ngộ? Nếu một tâm th́ tất cả chư Phật không hai, tại sao lại có Phật Di-đà, Phật Ca-diếp, Phật Thích-ca, vô số Phật như vậy? Chỗ này người ta dễ lầm, như Bà-la-môn giáo cho rằng chỉ có một Phạm thiên, khi tu đại ngă của họ thể nhập vào đại ngă Phạm thiên, thế là xong. Như vậy chỉ có một đại ngă, bao nhiêu người tu đều nhập về đó hết. Nếu Phật nói một tánh giác chung th́ Ngài thành Phật chúng ta cũng được ảnh hưởng, sao Phật thành Phật lâu quá mà ḿnh c̣n ngồi đây? Đó là một lư.

Lư thứ hai, nếu là một th́ chỉ có một vị Phật, như Bà-la-môn giáo chỉ có một Đại Phạm thiên gọi là đại ngă, sao chúng ta lại có vô số Phật, vậy vị Phật nào là chủ? Chỗ này kinh Viên Giác dùng thí dụ thật hay. Nói rằng trong một ngôi nhà tối có đốt một trăm ngọn đèn riêng khác, nhưng ánh sáng của một trăm ngọn đèn đó ḥa nhập vào nhau chỉ có một, không sai khác. Như vậy ngọn đèn tuy khác nhưng ánh sáng th́ đồng. Cho nên chữ một là nói về ánh sáng chớ không phải nói về ngọn đèn. Một mà không phải một, mới có vô số chư Phật. Mỗi vị giáo hóa mỗi nơi, giống như các ngọn đèn để ở những vị trí khác nhau, nhưng tánh chất của ánh sáng vẫn đồng.

Bây giờ chúng ta có thể hiểu hằng hà sa số chúng sanh là hằng hà sa số chư Phật. Quí vị có dám nhận ḿnh là Phật không? Nếu bây giờ nhận ḿnh là Phật th́ bị tội tăng thượng mạn, nhưng nghĩ ḿnh không có Phật tánh th́ tu tiến không? Không. Chúng ta ai cũng có tánh Phật nhưng chưa phải Phật quả. Phật tánh không rời ḿnh, nhưng ta c̣n mê, c̣n quên nên làm chúng sanh. Như người có ḥn ngọc quí mà quên, cất đâu không biết th́ người đó giàu hay nghèo? Có ngọc quí nhưng không biết để đâu th́ giàu cũng thành nghèo. Chừng nào lấy được ḥn ngọc quí ra dùng mới giàu. Chúng ta cũng vậy, có tánh giác là có Phật nhưng bây giờ quên, không biết Phật ở đâu, cứ thấy toàn là chúng sanh. Chừng nào chúng ta thấy ông Phật của ḿnh một cách cụ thể, rơ ràng chừng đó mới biết ḿnh vốn là Phật mà xưa nay quên. Như vậy tâm thể chúng ta có tánh Phật đồng với tánh Phật của chư Phật, nên nói là một.

Tâm này từ vô thủy tới nay không từng sanh, không từng diệt, không xanh không vàng, không h́nh không tướng v.v…  Tâm thể này từ thuở nào tới giờ, không sanh không diệt, không màu sắc không h́nh tướng. Chỗ này nói suông th́ quí vị rất khó hiểu, v́ sao tâm lạ vậy? Ở đây có hai trường hợp để chúng ta nhận biết được tâm.

Trường hợp thứ nhất rất b́nh thường giản dị, chỉ ai khéo tinh mắt một chút sẽ nhận ra ngay. Như chúng ta ngồi b́nh tĩnh trước sân chùa nh́n tất cả cảnh vật, mà không có niệm số một số hai nào dấy động hết, lúc đó có tâm không? Nếu không tâm th́ ai biết nh́n, ai biết thấy, có tiếng động biết nghe. Cái thấy nghe không dấy niệm đó là tâm chưa từng sanh chưa từng diệt. Vừa khởi khen chê hay ưa ghét liền qua tướng sanh diệt. Cho nên ở đây nói cái đó không có danh ngôn mà động niệm liền trái. Chỉ khi không dấy niệm tâm đó hiện tiền. Tâm không nghĩ ǵ hết diễn tả làm sao? H́nh tướng làm sao? Dáng dấp làm sao? V́ nó không h́nh tướng nên không xanh vàng đỏ trắng mà vẫn thấy vẫn nghe. Vừa khởi một niệm như cây tùng này đẹp th́ tâm ẩn khuất liền. Cho nên dùng chữ “động niệm liền trái”, động niệm là mất tâm chân thật liền.

Chúng ta nh́n là nh́n, thấy là thấy, không khởi niệm th́ tâm hiện tiền. Có khi nào quí vị cảm nhận điều đó không? Ai cũng cảm nhận được hết, như vậy đâu có người nào vô phần. Đă có phần nhưng không biết giữ của báu nên rồi xao lăng quên mất, cứ chạy theo cái nghĩ đông nghĩ tây cả ngày. Nhiều người rất tội nghiệp, ngồi một lát chợt vui lên muốn cười, sau đó lại quạu. Dáng vui dáng quạu của họ hiện ra tại cái ǵ? Tại ôn lại quá khứ, quá khứ đẹp th́ vui, quá khứ thù địch th́ quạu. Như vậy họ ngồi đó mà không có ngồi đó, v́ ngồi đó mà sống với quá khứ. Chúng ta sống với cái đă qua là sống với cái mất. Hoặc không sống với cái đă qua th́ sống với cái chưa tới, chưa tới cũng là ảo tưởng. Cái thực hiện tại chúng ta không sống, thành ra sống cả ngày mà thật ra không sống ǵ hết.

 V́ vậy nhà Thiền bắt chúng ta phải sống với hiện tại, quá khứ đă qua, vị lai chưa đến, chỉ hiện tại là chủ yếu. Như vậy mới thấy sống với hiện tại quá khó. Tại sao khó? V́ chúng ta quen nuôi dưỡng quá khứ, vị lai. Lấy quá khứ làm kinh nghiệm, lấy vị lai làm mơ ước. Mơ ước cái sẽ tới đẹp hơn bây giờ, nên thấy nó hấp dẫn, c̣n hiện tại th́ coi thường.

 

CHÁNH VĂN:

 

Ví như hư không không có giới hạn, không thể đo lường.

 

GIẢNG:

 

Tâm lặng lẽ, tự sáng suốt biết rơ mà không suy nghĩ, tâm đó có tướng mạo không? Không. Bởi không tướng mạo nên giống như hư không, giống như hư không nên không giới hạn, v́ vậy nói nó lớn không thể đo lường.

 

CHÁNH VĂN:

 

Duy một tâm này tức là Phật. Phật cùng chúng sanh không riêng khác.

 

GIẢNG:

 

Chỉ cái tâm lặng lẽ không động niệm đó là Phật. Phật cùng chúng sanh không khác.

 

CHÁNH VĂN:

 

Chỉ v́ chúng sanh chấp tướng cầu bên ngoài, càng cầu càng mất, khiến Phật đi t́m Phật, đem tâm bắt tâm, măn đời cùng kiếp trọn không thể được.

 

GIẢNG:

 

Chỉ v́ chúng sanh chấp tướng cầu bên ngoài, chạy theo h́nh thức nên càng cầu càng mất. Nghe chùa nào thờ Phật đẹp muốn tới chiêm bái. Nghe chùa nào Phật linh cầu ǵ cũng được, muốn chạy lại cầu. Chỉ cầu cái bên ngoài, mà càng cầu càng mất. Khiến Phật đi t́m Phật tức sai ông Phật thật đi t́m ông Phật giả. Ông Phật thật là ông Phật tâm tỉnh giác của ḿnh, ông Phật giả là ông Phật xi măng ngồi trên bàn. Có đau không? Nói vậy có người bảo tôi không lạy Phật nữa, sợ tội v́ đem Phật thật lạy Phật giả. Hiểu như vậy càng lầm. Tuy biết ḿnh có Phật thật nhưng chưa sống được với Phật thật mà sống với chúng sanh, th́ thôi đem chúng sanh lạy Phật giả, để tỉnh nhớ ông Phật của ḿnh. Lạy Phật giả để nhớ đến Phật thật nơi ḿnh, chớ không phải lạy Phật để cầu xin. Đó là ư nghĩa người biết tu Phật.

Đem tâm bắt tâm, măn đời cùng kiếp trọn không thể được. Tức đem tâm này t́m tâm khác, cứ đuổi bắt nhau không có ngày cùng. Thí dụ chúng ta vừa dấy niệm xấu, liền dùng niệm tốt đuổi niệm xấu đi. Niệm xấu đi rồi chỉ c̣n niệm tốt, như vậy cũng là tu kha khá. Nhưng vẫn c̣n cái này đuổi cái kia, chỉ khi nào niệm tốt niệm xấu đều lặng th́ cái thật nó hiện tiền.

 

CHÁNH VĂN:

 

Họ chẳng biết, dứt nghĩ quên tính, Phật tự hiện tiền.

 

GIẢNG:

 

Câu này nói trắng ra, không giấu giếm ǵ hết. Họ chẳng biết, dứt nghĩ quên tính, Phật tự hiện tiền, tức ḿnh dứt hết suy nghĩ, dứt hết tính toán th́ Phật tự hiện tiền. Quí vị một ngày Phật hiện được mấy giờ? Hay mấy phút? Sáu tiếng ngồi thiền, tôi cho mất hết năm tiếng, ít ra cũng c̣n một tiếng Phật hiện, chớ chẳng lẽ không có chút nào. Tu là để chúng ta trở về Phật của ḿnh, mà muốn trở về tâm Phật th́ phải dứt nghĩ, quên hết tính toán, Phật mới hiện tiền.

 

CHÁNH VĂN:

 

Tâm này tức là Phật, Phật tức là chúng sanh.

 

GIẢNG:

 

Tâm hiện tiền đó là Phật, tâm này đâu có rời thân người. Cho nên Phật tức là chúng sanh.

 

CHÁNH VĂN:

 

Khi làm chúng sanh tâm này không giảm, khi làm chư Phật tâm này không thêm, cho đến lục độ vạn hạnh công đức như hà sa tự sẵn đầy đủ, chẳng nhờ tu mà thêm, gặp duyên liền thi thố, duyên dứt liền vắng lặng.

 

GIẢNG:

 

Khi làm chúng sanh tâm này không giảm, khi làm Phật tâm này không thêm. Tâm hằng tri hằng giác của ḿnh lúc đang làm chúng sanh, nó vẫn hiện tiền, khi ta thành Phật nó vẫn hiện tiền, đâu có thêm bớt. Cũng chính tâm này khi gặp duyên, nó ứng hiện nào là lục độ vạn hạnh công đức như hà sa, tự đầy đủ, không nhờ tu mà thêm, gặp duyên liền thi thố, duyên dứt liền vắng lặng. Cho nên nói chân không mà diệu hữu. Tâm này không một tướng, một bóng dáng nên gọi là chân không. Từ chân không đó tùy duyên, ứng cơ, lợi vật không thiếu nên gọi là diệu hữu.

 

CHÁNH VĂN:

 

Nếu người không quyết định tin tâm này là Phật, chấp tướng tu hành để cầu được công dụng đều vọng tưởng, cùng đạo trái nhau.

 

GIẢNG:

 

Nếu người không quyết định tin tâm này là Phật, cứ chấp tướng bên ngoài tu hành để cầu được công dụng, th́ những công dụng đó đều là vọng tưởng, cùng đạo trái nhau.

 

CHÁNH VĂN:

 

Tâm này tức là Phật lại không có Phật khác, cũng không có tâm khác.

 

GIẢNG:

 

Tâm không dấy niệm, không suy tính, không so đo v.v… tâm đó là Phật, không có tâm nào khác nữa. Chúng ta thấy một đoạn này Tổ Hoàng Bá dạy Bùi Hưu rất rơ ràng, không giấu giếm tí nào hết. Cũng ngài Hoàng Bá mà khi Lâm Tế tới hỏi th́ đánh, không nói ǵ hết, c̣n Bùi Hưu tới hỏi Ngài lại dạy. Tại sao? Chỗ này phải nắm cho vững, nếu không chúng ta hiểu lầm chắc gặp quan, Ngài nể nên chỉ dạy, c̣n gặp Tăng Ngài đánh.

Nếu đi sâu chúng ta sẽ thấy thâm ư người xưa. V́ Bùi Hưu là quan, không có thời giờ, nếu hiểu được đạo ông sẽ ủng hộ đạo. C̣n Lâm Tế, Tổ biết là một người có tương lai, nếu nói rơ cho nghe th́ nhận một cách quá nhẹ nên dễ quên. Như mấy chú nghe tôi giảng có thể ngay lúc đó hiểu, nhưng một lát quên mất, cuối cùng chỉ nhớ hơn thua tốt xấu phải quấy lăng xăng, mà quên cái thật. Muốn cho con người kỳ đặc kia được chỗ thâm nhập măi măi không quên, cho nên dồn ép bằng cách đánh.

Hỏi “thế nào là đại ư Phật pháp”, Tổ liền đánh. Hỏi ba lần, đánh ba lần, đánh cho khóc ṃ v́ không biết lỗi tại chỗ nào mà ăn đ̣n. Nhưng tới chừng gặp ngài Đại Ngu chỉ nói một cách hết sức nhẹ: “Hoàng Bá thật là tâm lăo bà, chỉ tột cùng cho ông rồi, mà ông c̣n nghĩ có lỗi không lỗi”, ngay đó ngài Lâm Tế nhận ra, thấy rơ ràng. Cho nên nói “từ khi nhận được rồi tới sau không bao giờ quên, không bao giờ mất”. V́ vậy tông Lâm Tế kéo dài măi hơn một ngàn năm. Như vậy không phải v́ vị nể Bùi Hưu mà Tổ xử sự nhẹ nhàng, không v́ ác cảm với Lâm Tế mà đánh đập. Hành động đánh là gây một ảnh hưởng sâu đậm lâu dài cho ngài Lâm Tế. C̣n vị cư sĩ kia hiểu bao nhiêu tốt bấy nhiêu, không sao hết. Nếu đánh Bùi Hưu, ông sẽ oán chùa, có lợi ǵ. Cho nên hai trường hợp khác nhau.

Biết như vậy nhưng sao bây giờ tôi không đánh mấy chú? Bây giờ người ta đồn tu thiền điên, mà tôi lại đánh hét nữa th́ người ta nói tôi điên mất rồi, ai dám tu thiền. Do đó tôi phải giảng nói để mấy chú lănh hội được phần nào hay phần ấy, cộng thêm sách vở nghiên cứu. Từ đó quí vị mới tin Phật pháp hay mà ráng tu, chớ làm như người xưa không thể được. Tùy thời cơ, tùy hoàn cảnh mà linh động, chúng ta không thể chấp một bề. Có nhiều người nói Đức Sơn đánh, Lâm Tế hét đó là Thiền tông Trung Hoa. Ḿnh bây giờ cũng tu thiền, tại sao không biết đánh biết hét ǵ hết, như vậy là hiểu lầm. Mỗi trường hợp có cái khác nhau, chúng ta phải linh động, không thể chấp cứng một bên.

 

CHÁNH VĂN:

 

Tâm này sáng sạch ví như hư không, không có một điểm tướng mạo, khởi tâm động niệm liền trái pháp thể, tức là chấp tướng. Từ vô thủy tới nay không có Phật chấp tướng. Tu lục độ vạn hạnh muốn cầu thành Phật, tức là thứ lớp. Từ vô thủy đến nay không có Phật thứ lớp.

 

GIẢNG:

 

Ở đây cho chúng ta thấy lối tu đốn ngộ không có thứ bậc, không từ Bồ-tát thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa v.v… mà đi thẳng. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Đốn là đốn chỗ đó, chỉ có một bước mê và ngộ thôi. Nhưng trong cái ngộ, có người ngộ cạn, có người ngộ được sâu, hoặc người ngộ nhưng giữ không được và người ngộ mà giữ được, khác nhau như vậy. Ở đây không đặt thứ bậc thấp cao, chỉ thẳng cái tâm thể chân thật, chúng ta nhận được gọi là thấy đạo. Thấy đạo rồi cứ thế mà tu.

Lúc lặng lẽ mà rơ ràng thường biết, tâm đó không có một chút tướng mạo, nên ví như hư không. Song hư không th́ vô tri, c̣n tâm thể hằng tri, hằng giác, khác nhau chỗ đó. Vừa khởi tâm động niệm liền trái pháp thể. V́ khi dấy niệm, chúng ta chạy theo niệm nên ông chủ ẩn mất. Bởi vậy cả ngày nói tu mà tu với tướng bên ngoài. Nhớ chuyện này, nhớ chuyện kia, rồi phê phán người này hay người kia dở. Sự tu nằm trên tướng sanh diệt th́ không đi tới chỗ chân thật. Nếu được điều ǵ chẳng qua do chấp tướng mà được. Nên ở đây nói “không có Phật chấp tướng”. Phật thật th́ không chấp tướng, đă chấp tướng th́ không phải Phật thật. Chúng ta tu khó v́ lâu nay quen huân tập nhiều thứ, nên buông không được.

Tu lục độ vạn hạnh muốn cầu thành Phật, tức là Phật thứ lớp, nghĩa là từ Phật thập tín, Phật thập trụ, Phật thập hạnh cho tới Phật thập địa v.v… đó là Phật thứ lớp. Từ vô thủy tới nay Phật là Phật, chớ không có Phật thứ lớp.

 

CHÁNH VĂN:

 

Chỉ ngộ một tâm lại không có một chút pháp có thể được, đây tức là chân Phật. Phật cùng chúng sanh một tâm không khác.

 

GIẢNG:

 

Ngộ được tâm không dấy niệm đó th́ không một chút pháp có thể được, v́ tâm ấy không phải pháp ǵ hết. Đây tức là chân Phật, Phật cùng chúng sanh một tâm không khác. Phật đó với Phật của tất cả chúng sanh chỉ một Phật tâm, không có hai.

 

CHÁNH VĂN:

 

Ví như hư không, không xen lẫn, không hư hoại. Như vầng mặt trời soi bốn phương thiên hạ. Khi mặt trời lên ánh sáng chiếu khắp cả thiên hạ, hư không không từng sáng; khi mặt trời lặn, bóng tối che trùm thiên hạ, hư không không từng tối. Cảnh tối sáng tự đuổi cướp nhau, tánh hư không rỗng lặng chẳng đổi.

 

GIẢNG:

 

Thí dụ này xét kỹ thật hay. Ví như hư không, không có xen lẫn, không bị thứ ǵ làm hư hoại. Như vầng mặt trời soi bốn phương thiên hạ, lúc mặt trời lên nh́n trong hư không thấy sáng. Khi mặt trời lặn nh́n trong hư không thấy tối. Như vậy hư không có tối sáng không? Nếu nó sáng th́ khi tối lẽ ra cái sáng ḥa lẫn trong cái tối, nhưng thực tế không phải như vậy, nên biết hư không không tối, không sáng.

Cảnh tối sáng tự đuổi cướp nhau, tánh hư không rỗng lặng chẳng đổi. Tối đến th́ sáng ẩn, tối ẩn th́ sáng đến, hai thứ cứ đuổi cướp nhau, chớ hư không không đổi. Thực tế một chút, chúng ta thấy khi trong tâm ḿnh nghĩ điều thiện th́ cái thiện hiện ra, nghĩ điều ác th́ cái ác hiện ra. Khi nghĩ thiện th́ không có ác, khi nghĩ ác th́ không có thiện. Tâm chân thật giống như hư không, thiện ác giống như tối sáng. Tối tới th́ sáng ẩn, sáng đến th́ tối ẩn, không cái nào dính với hư không hết. Tâm thể cũng vậy, không có thiện ác. Khi hai thứ thiện ác lặng th́ tâm thể hiện tiền.

Bây giờ dù sáng dù tối cũng không liên hệ ǵ với hư không, nếu không sáng không tối th́ cũng là hư không. Tâm nghĩ thiện, nghĩ ác là tâm sanh diệt, khi tâm sanh diệt ấy dừng lặng th́ tâm thể nguyên vẹn hiện tiền, không t́m kiếm ở đâu. Cho nên gọi nó là “Bản lai diện mục”. Diện là mặt, mục là mắt, mặt mắt thật của chúng ta sẵn có từ thuở nào.

 

CHÁNH VĂN:

 

Phật và chúng sanh tâm cũng như thế. Nếu xem Phật thấy tướng giải thoát thanh tịnh, sáng suốt, xem chúng sanh thấy tướng nhơ bẩn tối tăm, người thấy biết như vậy trải qua số kiếp hà sa trọn không được Bồ-đề, v́ chấp tướng vậy.

 

GIẢNG:

 

Người thấy Phật là giải thoát thanh tịnh, c̣n chúng sanh nhơ bẩn tối tăm, như vậy tu trải qua số kiếp hà sa trọn không được Bồ-đề, v́ chấp tướng vậy. Nếu nghĩ nhớ thân Phật là thanh tịnh sáng suốt, thân chúng ta nhơ bẩn tối tăm th́ được, chớ tâm Phật và tâm chúng ta, tâm thể đó không có bên sáng bên tối. Chỉ v́ chúng ta quên, chạy theo vọng tưởng nên thấy có nhơ bẩn, tối tăm, chớ thể thanh tịnh của Phật và thể thanh tịnh của chúng sanh vốn không hai. Người nào thấy hai là chấp tướng.

 

CHÁNH VĂN:

 

Chỉ một tâm này, trọn không có pháp bằng hạt bụi nhỏ có thể được, tức tâm là Phật.

 

GIẢNG:

 

Chỉ một tâm này, tâm này là tâm nào? Tâm từ bi phải không? Tâm Bát-nhă phải không? Tất cả tâm có danh có tướng đều không phải. Chỉ là tâm thể thanh tịnh sẵn có của ḿnh, không có pháp bằng hạt bụi có thể được. Tâm đó là tâm Phật.

 

CHÁNH VĂN:

 

Như nay người học đạo không ngộ tâm thể này, bèn ở trên tâm sanh tâm, hướng ra ngoài cầu Phật, chấp tướng tu hành đều là pháp ác, chẳng phải đạo Bồ-đề.

 

GIẢNG:

 

Như nay người học đạo không ngộ tâm thể này, bèn ở trên tâm sanh tâm, nghĩa là chúng ta không ngộ, không nhận được tâm chân thật, rồi sanh khởi tưởng Phật thế này, Phật thế nọ. Đó là ở trên tâm sanh tâm. Hướng ra bên ngoài cầu Phật, chạy nơi này nơi kia t́m Phật. Chấp tướng tu hành đều là pháp ác, tại sao? V́ pháp đó không phải là pháp chân thật, cho nên nói là ác. Chẳng phải đạo Bồ-đề v́ đạo Bồ-đề là đạo giác ngộ. Giác ngộ cái ǵ? Giác ngộ tâm Phật của chính ḿnh. Phật tử thường có những sai lầm như nghe ai có ǵ huyền bí, lạ lùng th́ ngỡ người đó đă đạt đạo. Sự thật đạo là tâm chân thật sẵn có nơi ḿnh. Nhận được tâm đó là ngộ đạo, không nhận được là mê.

 

CHÁNH VĂN:

 

Cúng dường chư Phật mười phương không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm. Tại sao? V́ người vô tâm là không tất cả tâm, thể như như, trong như cây đá không động không lay, ngoài như hư không chẳng bít chẳng ngại, không năng sở, không chỗ nơi, không tướng mạo, không được mất. Người thú hướng mà không dám vào pháp này, sợ lạc vào không, không có chỗ nơi nương tựa, trông thấy mé rồi thối lui. 

      

GIẢNG:

 

Đây là dẫn kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật nói cúng dường chư Phật mười phương không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm. Có người thắc mắc cúng dường chư Phật mười phương nhiều như vậy sao không bằng cúng dường đạo nhân vô tâm? Ở đây chỉ cho chúng ta thấy, người phát tâm cúng dường chư Phật mười phương là xoay ra ngoài t́m Phật cầu Phật, c̣n đạo nhân vô tâm là chính ḿnh đi tới chỗ vô tâm, đó là chỗ cúng dường tuyệt đỉnh. Trở về để thấy ông Phật nơi ḿnh c̣n hơn ra ngoài làm trăm ngàn Phật sự, gọi là cúng dường Phật không bằng trở về ḿnh nhận chân được ḿnh. Nhận chân được ḿnh là vô tâm, vô tâm là đạo, đạo tức là Phật. Nên nhớ người học đạo là trở về ḿnh, chớ không phải chạy ra ngoài.

V́ người vô tâm là người không tất cả tâm, thể như như, trong như cây đá không động không lay, ngoài như hư không chẳng bít chẳng ngại, không năng sở, không chỗ nơi, không tướng mạo, không được mất. Người thú hướng mà không dám vào pháp này, sợ lạc vào không, không có chỗ nơi nương tựa, trông thấy mé rồi thối lui. Chỗ này nói chúng ta có hai cái khó. Thứ nhất là làm sao cho được không tâm, tức không tất cả tâm. Không tất cả tâm rồi lại bị cái khó thứ hai là sợ lạc vào không, đâm ra hoảng hốt. Đó là hai cái khó của người tu.

Khó thứ nhất chúng ta có thể qua được, v́ tin lặng hết tất cả niệm sẽ giác. Khi hết tất cả niệm, sao không thấy ǵ hết, sợ rơi vào không, đâm ra hoang mang. Nhưng họ quên không có ǵ hết tức là không tất cả vọng niệm, không tất cả lăng xăng mà thường biết rơ ràng. Thường biết rơ ràng làm sao lạc về không được? Nếu không biết như cây như gỗ th́ lạc về không là phải. Nhưng không tất cả niệm, c̣n vẫn thấy biết rơ ràng mà nói lạc về không th́ vô lư. Nhiều người tu tới đây muốn thối lui, tưởng thấy hào quang mới thích thú, chớ không thấy ǵ hết th́ tu làm chi. Hiểu như vậy thật là lầm to. Chỗ đó vô nhất vật, rỗng thênh, làm sao thấy cái ǵ? Khi tâm chúng ta trong sáng nên biết nó rỗng thênh. Tâm đang biết rỗng thênh làm sao nói không biết ǵ hết!

Chỗ này quí vị tu lâu phải chú ư, nếu không tới đây giật ḿnh, sao lâu nay ḿnh tu nhiều quá mà không c̣n ǵ hết, đâm ra hoang mang. Không c̣n tất cả niệm, tất cả dấy động, chớ tâm thênh thang vẫn c̣n. Song có nhiều người thích tới đó có hào quang hoặc thấy Phật sờ đầu mới vừa ư, không thấy Phật sờ đầu, không thấy hào quang, họ hoảng hốt sợ tu tới đây thành không ngơ. Như vậy để biết chúng ta tu tới đây không c̣n tất cả niệm sanh diệt, chỉ c̣n cái biết rỗng lặng, trùm khắp không nơi chốn. Cái biết rỗng lặng đó là tâm thể, là Phật thật của ḿnh, chớ không phải ǵ lạ. Nhận được như thế rồi, tu thuần thục mới có diệu dụng vô cùng, cho nên nói chân không mà diệu hữu. Đi tới đó Phật mới có tam minh, lục thông v.v… C̣n chúng ta chưa tới đó mà đă hoảng muốn thối lui, làm sao được? Chỗ này hết sức quan trọng, người tu không biết rất dễ lầm lẫn.

 

CHÁNH VĂN:

 

So sánh để t́m thấy biết rộng. Thế nên người thấy biết như lông, người ngộ đạo như sừng.

 

GIẢNG:

 

Sở học nhiều, hiểu biết rộng ví như con nai, lông th́ nhiều nhưng sừng chỉ có hai thôi. Ở thế gian học để trở thành một người khôn mất chừng bao nhiêu năm? Học suốt đời suốt kiếp, đủ trăm ngàn muôn thứ, biết được phần này th́ không biết phần khác, cho nên học càng rộng thấy biết càng nhiều, nhưng chỉ là lông. Như lông con nai, chúng ta đếm hết không? Không, v́ quá nhiều nhưng lại không có giá trị, c̣n sừng nh́n thấy hai cái thôi, đơn giản và rất có giá trị.

 

CHÁNH VĂN:

 

Văn-thù xứng lư, Phổ Hiền xứng hạnh. Lư là lư chân không vô ngại. Hạnh là hạnh ĺa tướng không cùng.

 

GIẢNG:

 

Ngài Văn-thù xứng lư, lư tức là trí, trí hợp với lư. Phổ Hiền xứng hạnh, hạnh đi đôi với nguyện, nên thường nói hạnh nguyện. Người lư, người hạnh. Ở đây Ngài nói lư là lư ǵ? Là lư chân không vô ngại, v́ trí tuệ chân thật đạt được lư chân không. Hạnh là hạnh ǵ? Là hạnh ĺa tướng không cùng, tất cả tướng đều ĺa, đó là hạnh. Chúng ta bây giờ nói trí, nói hạnh lại khác. Trí biết nhiều nhưng biết toàn những thứ giả danh giả tướng, hạnh là làm tất cả việc nhưng chỉ là những việc không thật. Ở đây Ngài trở về tâm, lư là chân không vô ngại, hạnh là ĺa tướng không cùng.

 

CHÁNH VĂN:

 

Quan Âm xứng đại từ, Thế Chí xứng đại bi.

 

GIẢNG:

 

Bồ-tát Quán Thế Âm xứng với hạnh đại từ, Bồ-tát Đại Thế Chí xứng với hạnh đại bi.

 

CHÁNH VĂN:

 

Duy-ma là Tịnh Danh. Tịnh là tánh, danh là tướng. Tánh tướng không khác nên hiệu là Tịnh Danh.

 

GIẢNG:

 

Ngài Duy-ma-cật dịch theo nghĩa chữ Hán là Tịnh Danh. Tịnh là tịnh cái tánh, c̣n Danh là tướng. Danh tướng đều thanh tịnh, tánh tướng không khác nên hiệu là Tịnh Danh.

 

CHÁNH VĂN:

 

Các vị đại Bồ-tát tiêu biểu nơi người đều sẵn có, không rời một tâm, ngộ đó tức phải.

 

GIẢNG:

 

Nói tới Bồ-tát Văn-thù là nói lư chân không vô ngại nơi tâm chúng ta. Nói Bồ-tát Phổ Hiền là nói hạnh ĺa tất cả chấp tướng, chấp bóng dáng nơi nội tâm của ḿnh. Nói Bồ-tát Quan Âm là nói tới ḷng đại từ nơi mỗi chúng ta. Nói Bồ-tát Thế Chí là nói hạnh đại bi của ḿnh. Nói tới ngài Duy-ma-cật là nói tới Tịnh Danh, tức tánh tướng đều thanh tịnh. Như vậy tất cả Bồ-tát đều biểu trưng sẵn có nơi mỗi chúng ta.

Chúng ta thường được học Bồ-tát Văn-thù là căn bản trí, Bồ-tát Phổ Hiền là sai biệt trí. Căn bản trí là trí thấu suốt lư chân không vô ngại, sai biệt trí là trí ĺa tất cả tướng không cùng. V́ có trăm ngàn thứ tướng sai biệt nên dùng sai biệt trí để dẹp. Tại sao ở đây nhắc đến ngài Văn-thù, Phổ Hiền trước rồi mới tới Quan Âm, Thế Chí? V́ đạt được lư chân không vô ngại, ĺa các tướng vô cùng, chừng đó mới phát đại bi tâm, đại từ tâm là Quan Âm, Thế Chí.

Tuy nhiên, nhận được lư chân không vô ngại, c̣n phải đợi ngài Phổ Hiền. Ngài Phổ Hiền gạt hết tất cả niệm sanh diệt rồi mới tới chỗ vô tâm. Vô tâm, có người nghe một lần liền được, có người phải nhiều năm, nhiều tháng, nhiều đời mới được. Chúng ta nhớ Lục tổ Huệ Năng khi ngộ rồi, từ đó về sau không cần ngồi thiền như ḿnh nữa. Thấy chú nào ngồi thiền Ngài lại nắm lỗ tai thổi. Tại sao vậy? V́ Ngài đi đứng ngồi nằm đều vô tâm, ngồi chi cho thừa. Tổ Lâm Tế khi được vô tâm rồi, Ngài nói không cần dụng công mà cũng không có một niệm.

Chúng ta bây giờ chưa được chỗ cứu kính cho nên gỡ lần mấy chú vọng tưởng. Đầu tiên gỡ mấy chú xấu trước, lần lần mấy chú tốt cũng lùa đi luôn. Chừng nào lùa hết tốt xấu mới thảnh thơi, nhẹ nhàng. Đó là gốc của sự tu. Nếu không như vậy sự tu hành của chúng ta sẽ không đi tới đâu.

Hiện giờ chúng ta c̣n phàm phu, nếu giúp được ai th́ dễ có bệnh ǵ? Giúp được người liền thấy ḿnh có công ơn, nếu người không đề cao, không ca tụng, ḿnh không vui. Được danh th́ vui, không được danh th́ buồn, v́ chúng ta c̣n kẹt trên danh tướng. Người ngộ được lư chân không, thấu suốt tất cả pháp sanh diệt, bỏ hết th́ tâm rỗng rang sáng suốt. Người ấy thấy chúng sanh mê muội kẹt trên h́nh tướng liền khởi tâm từ thương cứu giúp, thấy họ đi trong ṿng danh lợi, tử sanh khởi tâm bi xót xa không nỡ bỏ, nên nguyện cứu vớt chúng sanh. Chúng ta bây giờ lo cứu những cái có h́nh có tướng, càng cứu lại càng sa lầy.

Làm việc thiện là tốt, nhưng làm trong danh trong tướng nên dễ mắc kẹt. Đă mắc kẹt th́ nó dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. V́ vậy, chúng ta có tâm đại từ, tâm đại bi khi nào đạt được lư chân không vô ngại, khi nào hạnh ĺa tướng không cùng, chừng đó mới là đại từ, đại bi chân thật. V́ vậy đức Quan Âm, Thế Chí được nhắc sau Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền. Bồ-tát Văn-thù đi đầu v́ nhận được tâm chân thật, sau mới ĺa hết vọng niệm, ĺa hết các tướng. Nếu không có trí tuệ dẫn đầu làm sao chúng ta ĺa các tướng? Không nghĩ cái này th́ nghĩ cái kia. Bởi vậy tu thiền khó nhất là buông bỏ, niệm nào cũng bỏ. Nếu không nhận được ḿnh có tâm thể chân thật, rỗng lặng th́ không chắc ǵ ḿnh bỏ trọn vẹn, ĺa trọn vẹn được, cho nên nói đốn ngộ tiệm tu là thế. Đốn ngộ là nhận được tâm thể của ḿnh, rồi sau mới ĺa bỏ vọng niệm. V́ vậy Bồ-tát Văn-thù đi trước, Bồ-tát Phổ Hiền đi sau. Được Văn-thù, Phổ Hiền nhập tâm rồi, sau mới tới hạnh của Bồ-tát Quan Thế Âm, Đại Thế Chí. Bốn vị Bồ-tát này có sẵn nơi ḿnh hết. Hiểu như vậy mới thấy giá trị tu, mỗi vị Bồ-tát là mỗi hạnh có sẵn nơi ḿnh.

Ngài kết luận: Các vị đại Bồ-tát tiêu biểu nơi người đều sẵn có, không rời một tâm, ngộ đó tức phải. Nhận ra được như thế tức là phải.

 

CHÁNH VĂN:

 

Nay người học đạo không hướng trong tâm ḿnh mà ngộ, bèn ở ngoài tâm chấp tướng theo cảnh đều trái với đạo.

 

GIẢNG:

 

Ngài quở trách chúng ta học đạo mà không hướng vào trong tâm để ngộ, cứ chạy theo tướng bên ngoài. Đó là trái đạo.

 

CHÁNH VĂN:

 

Cát sông Hằng, Phật nói là cát. Chư Phật, Bồ-tát, Thích phạm, chư Thiên đạp giẫm đi qua, cát cũng chẳng mừng; trâu, dê, trùng, kiến giày xéo lên trên, cát cũng chẳng giận. Trân bảo thơm tho, cát cũng chẳng tham; phẩn uế hôi thối, cát cũng chẳng ghét. Tâm này tức tâm mà không tâm, ĺa tất cả tướng, chúng sanh chư Phật không có sai biệt, chỉ hay vô tâm liền là cứu kính.

 

GIẢNG:

 

Có bài kinh đức Phật nói chúng ta tu hạnh nhẫn nhục cũng như cát vậy. Người giẫm đạp lên, trâu lừa ngựa đi qua, cát không la rầy. Giả sử có người đem trân bảo hay hoa thơm bỏ xuống, cát không mừng. Hoặc ai đó đem đồ hôi thối quăng trên mặt cát, cát cũng không buồn. Tâm thể giống như cát, bởi nó không niệm làm sao có mừng, có giận. Người sống được với tâm đó th́ cả ngày không buồn, không giận, không thương, không ghét. Ai mắng cũng không giận, ai khen cũng không mừng th́ có ngu không? Thế gian nói kẻ đó là kẻ ngu, nhưng với đạo đó là bậc Thánh. V́ không bị tâm sanh diệt lôi cuốn chạy theo thanh trần bên ngoài, nên thản nhiên tự tại. Tâm đó là tâm thể biết tất cả, mà không dấy niệm thương ghét giận hờn, nên đâu có vui buồn.

Tâm của chúng sanh luôn so sánh phân biệt, vừa có lời khen liền vui, có lời chê liền giận, được th́ mừng, mất th́ buồn v.v… cả ngày đổi thay vùn vụt, không dừng. Vui buồn thương ghét là nhân tạo nghiệp luân hồi sanh tử. Nếu không vui buồn thương ghét là nhân ǵ? Nhân giải thoát sanh tử. Cái không đi trong luân hồi sanh tử không phải Phật là ǵ?

Tâm này tức tâm mà không tâm, ĺa tất cả tướng, chúng sanh chư Phật không có sai biệt, chỉ hay vô tâm liền là cứu kính. Ở đây bảo vô tâm là vô tâm nào? Vô tâm là vô cái tâm sanh diệt, c̣n tâm bất sanh vẫn hiện tiền. Chỉ vô cái tâm sanh diệt, th́ tâm chân thật hiển hiện.

 

CHÁNH VĂN:

 

Người học đạo nếu không thể thẳng đó vô tâm th́ nhiều kiếp tu hành trọn không thành đạo, bị công hạnh tam thừa ràng buộc, không thể được giải thoát.

 

GIẢNG:

 

Nếu người học đạo không thể thẳng đó vô tâm, dù nhiều kiếp tu hành trọn không thành đạo. Bởi v́ vô tâm mới được chỗ chân thật. Chân thật là ǵ? Là chân không vô ngại, đó mới là gốc thành Phật. Nếu chúng ta c̣n có một h́nh, một tướng trạng nào đều là bị ràng buộc, không thể giải thoát.

Người tu trải qua nhiều bậc và người ngay một đời này nhận ra, chỗ vô tâm như nhau. Quí vị hay so sánh người ở chùa hai chục năm, với người mới vào đạo một năm, nếu cả hai đều được vô tâm th́ cho là người hai chục năm cao hơn người một năm. Thật ra chỗ được đó không khác, trừ công tạo lập, gầy dựng, đạo đức mới khác. Nói như vậy để chúng ta biết rằng tới chỗ vô tâm, dù người tu nhiều năm hay người chỉ tu một thời gian ngắn mà đến được đó đều như nhau.

 

CHÁNH VĂN:

 

Nhưng, chứng tâm này có nhanh chậm. Có người nghe pháp một niệm liền được vô tâm. Có người đến thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng mới được vô tâm. Dài hay ngắn được vô tâm mới trụ, lại không có thể tu, không có thể chứng, thật không sở đắc, chân thật không dối. Người chỉ một niệm mà được, cùng người đến thập địa mới được, công dụng tương đương, không có sâu cạn, chỉ là nhiều kiếp luống chịu khổ nhọc vậy.

 

GIẢNG:

 

Nói người chứng được chân tâm có nhanh chậm. Có người nghe pháp một niệm liền được vô tâm. Có người tu đến thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa mới được vô tâm. Tại sao thứ bậc khác nhau như vậy? Bởi v́ nếu ngay đó trực nhận được bản tâm th́ mạnh mẽ buông hết vọng niệm, chỉ c̣n một tâm hiện tiền, đó là nhanh. Nếu tu từ từ, mỗi ngày giảm một chút, lâu ngày bước lên từng cấp bậc, đó là chậm. Hai lối đi đến chỗ ngộ khác nhau v́ tâm mạnh yếu của mỗi người, nên nói dài hay ngắn được vô tâm mới trụ.

Lại không có thể tu, không có thể chứng, không sở đắc, chân thật không dối. Nói không có thể tu, không có thể chứng, không sở đắc, chân thật không dối, đó là lẽ thật. Nghe đến đây có ai vui không? Tu mà không tu, không chứng, không đắc. Không tu, không chứng, không đắc th́ làm ǵ đây? Nếu bỏ một thời khóa liền bị rầy, như vậy quí thầy bắt tu hay không tu? Bắt tu. Tại sao ở đây nói không tu? Quí thầy c̣n khuyên Phật tử cố gắng tu để chứng thành Phật quả là có chứng, tại sao ở đây nói không chứng? Nếu tu nhận được bản tâm là trụ là đắc, sao nói vô trụ vô đắc?

Chúng ta quen quan niệm chữ tu nghĩa là sửa, là chừa bỏ. Những ǵ xấu chúng ta sửa lại thành tốt, cái ǵ hư chúng ta bỏ không dùng nữa. Như vậy chừa bỏ cái xấu để tiến lên cái hay cái tốt, đó là tu. Tâm thể chân thật đâu có hư xấu mà sửa bỏ, chẳng qua chúng ta quên nó nên bây giờ chịu khó nhận nó. Nhận ra, nhớ lại đừng quên là được rồi, không nói tu ǵ cả. Nhưng bây giờ chúng ta lận đận lao đao trên đường tu là v́ sao? V́ quên tâm chân thật, cả ngày chạy theo mấy chú vọng tưởng thành ra lao đao lận đận. Bảo tu là đừng chạy theo vọng tưởng nữa, chớ đâu phải tu cái chân thật sẵn có. Như vậy trên mặt chân thật không có tu, mà tu là sửa lại đừng chạy theo vọng tưởng điên đảo thôi. Không chạy theo vọng tưởng điên đảo là dừng lại, chớ có tu sửa ǵ đâu.

Như sân là một nghiệp ai cũng sợ. Nhiều vị tu năm năm, mười năm vẫn c̣n ngán cái sân. Lâu lâu bị thiên hạ kích động trái ư th́ mặt mày đỏ hừng lên, miệng nói bậy nói bạ. Như vậy đáng sợ không? Nhưng qua cơn điên khùng rồi, ngồi lặng lại t́m xem cái sân hồi năy ở đâu? T́m không ra. Nếu nó thật th́ khi lặng xuống phải có chỗ ẩn núp, nhưng t́m lại không có. Khi dấy động th́ rối loạn lung tung, khi lặng xuống không c̣n dấu vết, cái đó thật hay giả? Giả, vậy mà lâu nay chúng ta v́ khùng điên chạy theo nó. Khùng điên v́ không có nền tảng trí tuệ. Người ta không trí tuệ nên nói bậy, ḿnh cũng không trí tuệ mới chạy theo cái bậy ấy. Từ đó sanh ra đủ thứ hỗn loạn, đủ thứ đau khổ. Chúng ta tu là đừng lầm, đừng mê những lời điên khùng. Nghe việc ǵ cũng cười th́ có chuyện ǵ xảy ra. Nhưng nghe trái tai chịu không nổi liền sanh đủ thứ chuyện. Một người điên cộng thêm hai người điên, rốt cuộc cả chùm điên hết th́ khổ, rồi kêu Ta-bà khổ. Ta-bà khổ tại chỗ nào?

Nếu ngồi yên lặng nh́n lại sẽ thấy rơ ràng, tất cả chúng ta sống trong điên đảo, nên Bát-nhă gọi là vọng tưởng điên đảo. Cái tưởng điên đảo mà cứ chạy theo nó, v́ vậy cả đời điên đảo. Điên đảo từ bé đến già đến chết, cho nên lộn lên lộn xuống làm người làm vật đủ thứ. Bây giờ mỗi lần vọng tưởng dấy lên, biết nó vọng không theo, th́ hết điên đảo. Hết điên đảo mới nhớ cái thật của chính ḿnh, như thế tạm gọi là tu, chớ sự thật có ǵ để tu.

Nói tu là chúng ta đừng chạy theo suy nghĩ lăng xăng, sống thật với cái sẵn có của ḿnh. Không có ǵ để tu th́ có ǵ để chứng không? Không có cái tu làm sao có cái chứng. Không có cái chứng nên cũng không có đắc. Do vậy ở đây nói “không có thể tu, không có thể chứng, thật không có sở đắc”. Không tu, không chứng, không đắc nhưng nhà Thiền dạy thường tỉnh, đừng mê, đừng quên. Vọng tưởng lên biết vọng tưởng không theo th́ sống lại cái thật của ḿnh. Đó là tỉnh và nhớ lại gốc nơi mỗi chúng ta. Người tu phải khéo nhận cho chín chắn, hiểu thật tường tận th́ sự tu hành không khó lắm.

Ở đây nói “chỉ là nhiều kiếp luống chịu khổ nhọc vậy”. Tại sao? V́ chúng ta không nhận ra cái thật, cứ chạy theo thứ lớp, cấp bậc h́nh thức thành ra nhiều thứ nhọc.

 

CHÁNH VĂN:

 

Tạo ác tạo thiện đều là chấp tướng. Chấp tướng tạo ác luống chịu luân hồi; chấp tướng tạo thiện luống chịu nhọc nhằn, thảy đều không bằng một câu nói tự nhận được bản pháp. Pháp này tức là tâm, ngoài tâm không có pháp. Tâm này tức là pháp, ngoài pháp không có tâm. Tâm tự vô tâm, cũng không vô tâm, đem tâm cầu vô tâm, tâm trở lại thành có. Thầm khế hội mà thôi. Dứt các nghĩ bàn, nên nói dứt đường ngôn ngữ, diệt chỗ tâm hành. Tâm này là cội nguồn thanh tịnh. Phật và người đều có. Các loài ḅ bay máy cựa cùng chư Phật, Bồ-tát một thể không khác. Chỉ v́ vọng tưởng phân biệt tạo các thứ nghiệp. Trên quả Phật sẵn có, thật không một vật, rỗng suốt vắng lặng sáng sủa, nhiệm mầu an lạc. Phải sâu tự ngộ nhập, thẳng đó là phải, tṛn đầy sẵn đủ không có thiếu sót.

 

GIẢNG:

 

Ngài nói tạo ác, tạo thiện đều là chấp tướng. Câu này bị người ta phản đối lắm. Tạo ác là chấp tướng, tại sao tạo thiện cũng chấp tướng? Vậy không cho làm thiện sao? Thật ra với cái nh́n đối đăi, tạo ác là tội lỗi, tạo thiện là phước lành. Tạo ác bị luân hồi ở địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Tạo thiện bị luân hồi ở cơi người, a-tu-la, trời. Cả hai đứng về mặt luân hồi đều như nhau, chỉ khác luân hồi ở chỗ khổ và luân hồi ở chỗ ít khổ hơn.

Ví dụ được sanh về cơi trời như trời Đế Thích, lâu lâu cũng hết phước. Khi hết phước năm tướng suy hiện, lúc đó khổ hay vui? Cũng khổ như thường. Như vậy tất cả khổ vui trong ṿng luân hồi tuy có khác nhưng gốc vẫn là luân hồi. V́ vậy ở đây nói tạo ác, tạo thiện đều là chấp tướng, một bên bị tướng luân hồi trong tam ác đạo, một bên được tướng luân hồi trong tam thiện đạo. Nên nói làm thiện th́ luống chịu nhọc nhằn v́ c̣n phải lên xuống trong các đường, không bằng một câu nói tự nhận bản pháp, pháp này tức là tâm.

Ngày nay thiên hạ chịu tạo thiện để đời sau sung sướng hơn đời này. Nói đời sau nhập Niết-bàn thấy xa vời quá, chỉ muốn sướng hơn đời này một chút là vui rồi. Hoặc nói mất không có đời sau th́ buồn chết. Do đó người đời thích làm thiện, không thích tu giải thoát sanh tử. V́ vậy khuyến khích làm lành người ta dễ chấp nhận, c̣n bảo tu cho thoát khỏi sanh tử, người ta không biết sẽ ra sao nên không nghe theo.

Ở đây các Tổ dạy muốn ra khỏi sanh tử phải nhận được bản pháp. Pháp tức là bản tâm của ḿnh. Khi tâm khởi nghĩ xấu đó là tạo nghiệp ác, nghĩ lành là tạo nghiệp thiện. Người mới tập tu phải bỏ nghĩ ác, nuôi nghĩ lành. Tuy nhiên nghĩ ác sanh ba đường dữ, nghĩ lành sanh ba đường thiện th́ cũng là sanh. C̣n có nghĩ là c̣n tạo nghiệp, chừng nào tâm không c̣n nghĩ hai bên, lúc đó ta vẫn biết mà không có niệm, đó chính là tâm chân thật. Không có niệm th́ không có nghiệp, không có nghiệp th́ thoát ly sanh tử. Cho nên muốn ra khỏi ṿng sanh tử phải dứt cả hai bên. Cái nghĩ hai bên đều buông xả hết, rốt cuộc c̣n một tâm thể thanh tịnh hằng tri, hằng giác, không bị sanh tử. Không bị sanh tử th́ nó có hay không? Không phải có, không phải không. Tại sao? V́ c̣n thấy có, thấy không cũng là hai bên.

Khi hai niệm thiện ác không nghĩ th́ c̣n cái biết không? Biết rơ ràng là c̣n tâm, chớ đâu phải không tâm. Tâm ấy không bị nghiệp dẫn nên nói giải thoát. Điều này hết sức cụ thể, không phải chuyện mơ màng thiếu thực tế. Chúng ta không chịu nghiệm xét, cứ chạy theo nghĩ ác nghĩ thiện, như vậy mà tạo nghiệp luân hồi. Lục Tổ nói hết sức thẳng: “ Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái ǵ là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Câu này Ngài đă chỉ trắng ra, không c̣n một chút ǵ giấu giếm. Dứt cả nghĩ thiện, nghĩ ác th́ hiện hữu Bản lai diện mục của ḿnh, thoát ly sanh tử.

Như người tu theo hạnh Thanh văn chứng Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Tới A-la-hán rồi tiến lên Diệt tận định, không c̣n niệm thiện ác. V́ Diệt tận định th́ đâu c̣n niệm thiện, niệm ác. Rơ ràng không có vị A-la-hán nào c̣n niệm. Diệt tận định là định không c̣n một chút tâm dạng niệm khởi, như vậy mới tới vô sanh, nhập Niết-bàn. Ngay đây nếu chúng ta không c̣n hai niệm thiện ác th́ dù chưa nhập Niết-bàn nhưng cũng như ở Niết-bàn. Quí vị chịu ở Niết-bàn không? Ai cũng mơ ước được giải thoát nhập Niết-bàn, trong khi Niết-bàn ngay trước mắt không chịu nhận.

Ở đây chỉ thẳng tâm sanh diệt tạo nghiệp luân hồi, tâm không sanh diệt đi đến Niết-bàn. Ai có gan không thèm nghĩ thiện, nghĩ ác th́ gần Niết-bàn rồi, khỏi cần nhập Diệt tận định. Chúng ta hiểu cho tường tận mới thấy đường lối của Phật Tổ dạy, tuy khác nhau từ cấp bậc, nhưng chỗ cứu kính vẫn gặp nhau, không thể khác được. Nên nói “Tâm này tức là pháp, ngoài pháp không có tâm”. Thường thường nhà Phật hay dùng từ “pháp” để chỉ muôn sự muôn vật, mà cũng dùng từ “pháp” để chỉ cho chánh pháp của Phật dạy. Tất cả pháp đều từ tâm này mà ra nên biết tâm này tức là pháp, ngoài pháp không có tâm.

Tâm tự vô tâm, cũng không vô tâm, đem tâm cầu vô tâm, tâm trở lại thành có. Tâm này tự vô tâm. Tại sao? V́ đứng trên hai mặt, niệm hữu niệm vô hay niệm thiện niệm ác, người ta nói có tâm. Hết những niệm đó th́ tâm mà vô tâm. Tâm là sao? V́ không có niệm mà vẫn biết, vẫn tri giác đó là tâm. Vô tâm là sao? V́ không có niệm thiện, niệm ác đó là vô tâm. Vô tâm mà không phải không ngơ, vô tâm tạo nghiệp nhưng tâm chân thật vẫn hiện tiền. V́ vậy nói tâm tự vô tâm.

Cũng không vô tâm là sao? Bởi v́ tâm hằng tri giác làm sao vô được. Đem tâm cầu vô tâm, tâm trở lại thành có, nếu khởi tâm để t́m tâm chân thật, tâm ấy trở thành có rồi. Chỗ tâm này là tâm mà vô tâm. Tại sao? V́ hằng biết mà không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ phải, không nghĩ quấy v.v… đó là vô tâm. Vô tâm tức là tâm. Tại sao? V́ vô tâm sanh tử hay vô tâm tạo nghiệp, mà c̣n tâm chân thật. Cho nên vô tâm mà vẫn là tâm, không phải vô tâm là không có ǵ hết.

Tâm dấy niệm t́m thuộc về dấy động, lấy dấy động t́m tâm chân thật, làm sao t́m được? Cho nên nói nếu dùng tâm t́m tâm, tâm trở lại thành hữu, nghĩa là tâm bị t́m trở thành có. Trong mười mục chăn trâu, ban đầu c̣n trâu c̣n chăn, cuối cùng trâu mất chăn cũng không c̣n. Nếu c̣n một thằng chăn hay c̣n con trâu cũng chưa tới chỗ cứu kính, phải cả hai đều mất, mới đi tới chỗ viên măn. V́ vậy nói tâm này chỉ thầm khế hội, thầm nhận thầm biết, chớ không t́m kiếm.

Dứt các nghĩ bàn, không thể nghĩ bàn tới chỗ đó, nên dứt đường ngôn ngữ, chỗ ấy không nói năng ǵ được, diệt chỗ tâm hành, dứt tâm theo đuổi t́m kiếm. Câu nên dứt đường ngôn ngữ, diệt chỗ tâm hành, là chỉ cho muốn đến nơi chân thật th́ không c̣n ngôn ngữ, không c̣n tâm hành. Thiền sư Đả Địa khi có người hỏi “thế nào Phật”, Ngài chỉ cầm gậy đập dưới đất một cái, hỏi “thế nào pháp” cũng đập một cái, không trả lời ǵ hết. Tại sao? V́ Phật và pháp là chỗ không có ngôn ngữ, vừa có ngôn ngữ liền trật rồi. Ngài chỉ thẳng nhưng chúng ta không biết nên không nhận ra yếu chỉ của Thiền sư.

Ngài Lâm Tế tới hỏi Tổ Hoàng Bá “thế nào là đại ư Phật pháp”, ngài Hoàng Bá không nói mà chỉ đập thôi. Bởi v́ đây là chỗ ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, bây giờ phải trả lời làm sao? Trả lời là có ngôn ngữ, thành ra Tổ cầm gậy đập. Như vậy thấy tàn nhẫn quá. Hỏi một câu có nghĩa có lư đàng hoàng, không chỉ lại đánh. Khi Lâm Tế tới ngài Đại Ngu, Ngài bảo: “Hoàng Bá thật là tâm lăo bà v́ ông mà chỉ chỗ tột cùng, ông c̣n nghĩ có lỗi không lỗi.” Bởi chỉ chỗ tột cùng nên không thể mở miệng, không cho hành giả suy nghĩ. Có nói là có suy nghĩ, v́ vậy Ngài chỉ đánh, đó là tâm lăo bà.

Bây giờ tôi cũng đánh, không nói ǵ hết, quí vị chịu không? Chắc ít tháng xách gói đi hết. Tâm lăo bà không đúng chỗ thiên hạ cũng không chịu nổi. Chỉ người đến nơi rồi mới thấy được tâm lăo bà, c̣n chưa đến th́ thấy tàn nhẫn. Chúng ta nh́n hành động ấy cũng thật bất b́nh, cho nên Lâm Tế khóc là phải. Tức quá mà, hỏi có ư nghĩa đàng hoàng không dạy không trả lời, c̣n đánh nữa. Đâu phải đánh một lần, ba lần đều như vậy, không tức sao được. Chính chỗ dồn ép đó, sau này ngài Lâm Tế ngộ được mới truyền bá hơn ngàn năm. Đó là thủ thuật đại tài của những bậc đại Thiền sư, chúng ta bây giờ chỉ là tiểu Thiền sư nên không dám dùng thủ thuật ấy.

Tâm này là cội nguồn thanh tịnh. Khi không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ phải, không nghĩ quấy mà thường biết th́ cái biết đó thanh tịnh không? Thanh tịnh. Cái biết thanh tịnh này có người nào thiếu không? Nếu không, tại sao không dám nhận, phải chờ nhắc tới nhắc lui! Tại v́ quên. Bây giờ nhờ thiện hữu tri thức nhắc nhở mới nhớ, mỗi lần nhắc tin thêm một chút, nhận ra một chút, lâu ngày thấm dần, chừng đó mới nhận toàn diện. V́ vậy phải chịu cực.

Phật và người đều có, chư Phật có tâm đó, chúng ta cũng có tâm đó, cho đến loài ḅ bay máy cựa cùng Bồ-tát đều có tâm ấy. Tại sao? V́ các loài đều có tánh biết.

Chỉ v́ vọng tưởng phân biệt tạo các thứ nghiệp, chúng ta c̣n vọng tưởng nên c̣n tạo nghiệp, lên hay xuống th́ tùy mỗi người. Muốn hết nghiệp phải hết vọng tưởng. Nếu hết vọng tưởng lúc đó chúng ta khùng hay sáng suốt? Không vọng tưởng biết nấu cơm ăn không? Cũng biết vo gạo, biết lặt rau vậy. Đợi vọng tưởng mới biết làm sao? Khi tất cả chúng ta đều hết vọng tưởng th́ Thiền viện trở thành Cực Lạc rồi, không cần ai nhắc ai, ai rầy ai, cứ tự do làm việc theo tâm thanh tịnh bản nhiên thôi, không chuyện ǵ hết. C̣n bây giờ phải nghe rầy tới, rầy lui, nhắc qua, nhắc lại là tại mỗi người đều khởi vọng tưởng, thi thố vọng tưởng của ḿnh. Người này vừa vọng tưởng liền muốn thi thố ra, người khác cũng thi thố đối lại, riết thành cả đám căi nhau hoài. Căi là gốc từ vọng tưởng, không có cái nào ngoài vọng tưởng hết. Nếu tất cả Tăng Ni sống mà không vọng tưởng th́ có chuyện ǵ phải căi, phải rầy nữa. Thật nhẹ nhàng biết mấy! Nên con đường thành Phật không phải xa, xa là chỉ v́ vọng tưởng mà ra.

Trên Phật quả sẵn có, thật không một vật, rỗng suốt vắng lặng sáng sủa, nhiệm mầu an lạc. Trên quả Phật sẵn có là sẵn có cái ǵ? Không một vật ǵ hết, bản lai vô nhất vật, rỗng suốt vắng lặng, nhiệm mầu an lạc. Bây giờ vị nào thử trong một ngày không vọng tưởng, từ sớm tới chiều ở Thiền đường ra ngoài làm công tác, đừng có một chút vọng tưởng, người đó có thể sống được với cái sáng suốt rỗng lặng của ḿnh không? Nghe nói sáng suốt rỗng lặng, thiên hạ tưởng tới đó bế tắc, không hiểu biết, nhưng không ngờ đến đó mới được nhiệm mầu, an lạc. Cho nên đức Phật nhập định sâu, sau đó mới chứng Tam minh, Lục thông. Từ chân không mới có diệu hữu. Chân không là chỗ không tất cả vật, không tất cả nghiệp, rỗng suốt vắng lặng, đến đây rồi mới có Tam minh, Lục thông tức là diệu hữu.

Phải sâu tự ngộ nhập, thẳng đó là phải, tṛn đầy sẵn đủ không có thiếu sót. Tất cả chúng ta ai cũng đủ, cũng sẵn có tâm Phật, tất nhiên ai cũng có quyền làm Phật. Cho nên Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng bái, nói: “Tôi không dám khinh các ngài, v́ các ngài đều sẽ thành Phật.” Đó là lời Bồ-tát nhắc khéo, chúng ta có đủ khả năng thành Phật mà quên nên phải nhắc. Nhiều người nghĩ Ngài nói câu đó với tư cách khiêm nhường, nhưng sự thật đó là bài pháp ngắn, đánh thức khả năng thành Phật nơi mỗi người, để chúng ta vững niềm tin tiến tu, chớ không phải câu nói khiêm nhường.

Học tới đây chúng ta đă biết v́ sao ḿnh đi trong luân hồi, làm sao để ra khỏi sanh tử. Như vậy có cần coi bói xem ḿnh được giải thoát không? Chính thầy bói cũng luân hồi sanh tử, làm sao coi được. Phải tự thấy ḿnh tường tận, nếu đang tạo nghiệp trong sanh tử th́ sẽ đi đường sanh tử. Nếu nuôi dưỡng toàn những niệm xấu th́ sẽ đi trong ba đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nếu thuần niệm thiện, thương người này giúp kẻ kia, th́ biết ḿnh sẽ đi trong ba đường lành. C̣n cả ngày từ sớm tới chiều như ngây như ngu, tâm thanh tịnh không một niệm nào dấy khởi là biết ngang đây dứt đường sanh tử. Rơ ràng như vậy khỏi cần hỏi, khỏi cần cầu xin ai hết. Chúng ta đủ thẩm quyền để chọn lối đi. Lối thứ nhất xuống ba đường dữ, lối thứ nh́ sanh ba đường lành, lối thứ ba ra khỏi sanh tử. Mỗi vị tự chọn lấy, không ai chọn thế được.

V́ vậy các Thiền sư nói tới nói lui, nói qua nói lại đều bảo đừng dính hai bên. V́ đó là gốc của luân hồi sanh tử. Chừng nào hai bên lặng, dù chúng ta ra vườn nhổ cỏ mà cũng là đang ở trong đại định. Lục Tổ dạy đại định là làm tất cả việc mà không có niệm dính hai bên. Trong đại định có tuệ, v́ không dấy động là định, mà hằng tri hằng giác là tuệ. Đây gọi là định tuệ không hai. C̣n định trước rồi lần lần sanh tuệ, không gọi là đại định. Đó là chỗ thâm sâu mà người học đạo cần phải biết cho rơ, mới thông cảm được với người xưa.

 

CHÁNH VĂN:

 

Giả sử người tinh tấn tu hành trải qua ba vô số kiếp, qua các địa vị, cùng người do một niệm chứng được, chỉ là chứng cái sẵn có. Kỳ thật, trên Phật của ḿnh không thêm được một vật ǵ, xem lại công dụng nhiều kiếp thảy đều là việc làm trong mộng. Cho nên Như Lai nói: “Ta đối với A-nậu Bồ-đề (Vô thượng Chánh giác) thật không có sở đắc, nếu có sở đắc, đức Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kư cho ta.”

 

GIẢNG:

 

Nếu tu hành theo kinh dạy th́ phải trải qua ba vô số kiếp mới được thành Phật. Ở đây nói trải qua ba vô số kiếp, qua các địa vị thập tín, thập trụ v.v… cùng người do một niệm chứng được, chỉ là chứng cái sẵn có của ḿnh, kỳ thật trên Phật của ḿnh không thêm một vật ǵ. Chừng đó mới thấy công phu tu hành qua ba vô số kiếp, thảy đều là việc trong mộng. Bởi v́ tu khổ hạnh thế này, làm lợi ích cho chúng sanh thế kia, nhưng tất cả đều là sanh diệt. V́ vậy dẫn kinh nói: “Ta đối với A-nậu Bồ-đề thật không có sở đắc, nếu có sở đắc, đức Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kư cho ta.” Bởi v́ chân thật là cái sẵn có của ḿnh, có thêm bớt ǵ đâu mà sở đắc. Nếu c̣n sở đắc là c̣n kẹt h́nh tướng, kẹt thứ bậc, Phật đâu thọ kư cho người kẹt chấp. Chừng nào chúng ta nhận chân được chỗ chân thật cứu kính, Phật mới thọ kư.

 

CHÁNH VĂN:

 

Lại nói: “Pháp ấy b́nh đẳng không có cao thấp, ấy gọi là Bồ-đề.”

 

GIẢNG:

 

Bởi v́ trên tâm thể chân thật, Phật và chúng sanh không khác nên nói b́nh đẳng, ấy gọi là Bồ-đề.

 

CHÁNH VĂN:

 

Tức tâm bản nguyên thanh tịnh này, chúng sanh, chư Phật, núi sông, thế giới, có tướng, không tướng, khắp cả mười phương thế giới, tất cả đều b́nh đẳng không có tướng ta và kia.

 

GIẢNG:

 

Khi nhận được tâm bản nguyên thanh tịnh rồi, chừng đó chúng ta thấy chúng sanh, Phật cho tới tất cả muôn pháp ở thế gian đều không hai.

 

CHÁNH VĂN:

 

Tâm bản nguyên thanh tịnh này thường tự tṛn sáng soi khắp, mà người đời không ngộ, chỉ nh́n cái thấy nghe hiểu biết làm tâm, bị cái thấy nghe hiểu biết che đậy, cho nên không thấy được bản thể tinh minh.

 

GIẢNG:

 

Chúng ta có tâm bản nguyên thanh tịnh tự tṛn sáng soi khắp hết, mà không nhận, không ngộ được nó, chỉ nhận cái thấy nghe hiểu biết làm tâm. V́ vậy bị cái thấy nghe hiểu biết che đậy, nên không thấy được bản thể tinh minh. Bản thể tinh minh là cái trong sáng của chính ḿnh. Chỗ này không khéo quí vị sẽ nhận lầm rằng tất cả cái thấy nghe hiểu biết không ảnh hưởng ǵ với bản thể tinh minh, v́ Ngài nói chỉ nh́n cái thấy nghe hiểu biết làm tâm. Nhưng nhớ, thấy nghe hiểu biết tức là kiến văn giác tri, nó là giặc mà nó cũng là tâm ḿnh. Đoạn dưới sẽ nói rơ.

 

CHÁNH VĂN:

 

Chỉ nên thẳng đó vô tâm th́ bản thể tự hiện. Như vầng mặt trời lên trên hư không soi sáng khắp mười phương không có chướng ngại. Người học đạo chỉ nhận cái thấy nghe hiểu biết động tác thi vi; không dẹp cái thấy nghe hiểu biết tức là con đường tâm bặt dứt không lối vào. Chỉ nơi cái thấy nghe hiểu biết nhận bản tâm. Song bản tâm không thuộc cái thấy nghe hiểu biết, cũng không rời cái thấy nghe hiểu biết.

 

GIẢNG:

 

Nói đi nói lại, sở dĩ chúng ta lầm là v́ quen cái thấy nghe hiểu biết là tội, mà không nhận ra cái thấy nghe hiểu biết cũng là công. Như vậy thấy nghe hiểu biết thế nào là tội, thấy nghe hiểu biết thế nào là công? Thấy b́nh hoa rồi khởi nghĩ b́nh hoa đẹp xấu đó là tội. Thấy b́nh hoa biết ḿnh có cái hay thấy đó là công. Tội hay công đều do nơi ḿnh. Nghe nói nhận cái thấy nghe hiểu biết, rồi bị nó che đậy nên bịt mắt, bịt tai… hiểu như vậy là lầm.

Đây nói chỉ nên thẳng đó vô tâm th́ bản thể tự hiện, thẳng đó vô tâm tức là đối với tất cả sự việc xảy ra chung quanh, ngay đó chúng ta vô tâm. Được vô tâm th́ như vầng mặt trời lên trên hư không, soi sáng khắp mười phương không có chướng ngại. Ngược lại, nếu có tâm th́ như nh́n lên bầu trời thấy áng mây, chiếc máy bay hay cánh chim… lúc đó ta chú ư vào áng mây, máy bay, cánh chim… nên quên mất bầu trời thênh thang. Tâm ḿnh cũng vậy, tự nó thênh thang, nhưng vừa dấy niệm, chạy theo niệm th́ lặng mất tâm thênh thang.

Chúng ta thường cho cái nghĩ của ḿnh đúng, rồi phê phán đủ chuyện. Cả ngày làm việc không công mà siêng lắm. Hết chuyện này tới chuyện kia, thấy người này phê b́nh, thấy người kia phê b́nh, đủ thứ. Chuyện họ mặc họ, ḿnh có cái thật đây mà không nhớ. Tu đ̣i thành Phật, mà Phật ngay đây không nhớ, cứ nhớ hết chúng sanh này tới chúng sanh khác, cả ngày như vậy. Ông Phật ngồi trên bàn chắc cười hoài, mấy chú lạy tôi, muốn thành Phật như tôi, mà cứ chạy theo chúng sanh hoài th́ chừng nào thành Phật? Rơ ràng chúng ta quá sức dại khờ.

Như người ta đi ngoài đường th́ kệ người ta, mắc mớ ǵ ḿnh mà suy gẫm xem tâm tư người đó thế nào, như vậy chắc ǵ đúng. Vậy mà cũng bám vào suy gẫm, có phải dại khờ không? Hoặc ai vô t́nh hay cố ư nói ǵ đó, th́ thôi cho qua đi, tội ǵ phải suy nghĩ câu ấy khen hay chê cho cực. Chúng ta có bệnh cái ǵ cũng ôm vô hết, rồi than khổ than mất ăn mất ngủ. Chuyện ở đâu cũng cứ ôm vô làm sao ngủ được. Người tu phải sáng suốt khôn ngoan, việc ǵ đáng th́ làm, không đáng th́ bỏ qua, đừng bận rộn, đừng phiền hà, đừng can thiệp chuyện của người ta. Thấy huynh đệ đi chơi hơi lững thững, vô mách quí thầy lớn ông đó vầy kia. Như vậy là can thiệp chuyện của người ta rồi, ḿnh tôn trọng tự do của ḿnh, sao không tôn trọng tự do của người ta. Thấy người cắm đầu làm việc không nói năng ǵ hết, liền can thiệp vô “người đó làm việc buồn quá, không nói câu nào hết, thật là con người khó hiểu”. Người nói nhiều th́ can thiệp theo nói nhiều, người không nói th́ can thiệp theo không nói, cả ngày cứ can thiệp chuyện người ta. Chuyện của ḿnh đang rối nùi nè, bảo bỏ đi đừng nghĩ nữa mà không nghe, cứ can thiệp chuyện người ta, rồi sanh phiền năo đủ thứ. Đó là bệnh chung của chúng sanh, ai cũng mắc phải hết. Tu là gỡ bỏ những điên đảo, vô ích như vậy.

Người tu chỉ một việc là phải nhớ ông Phật thanh tịnh của ḿnh, c̣n tất cả niệm tạo nghiệp hăy buông đi. Tu là cốt thành Phật, cả ngày giữ cho thanh tịnh trọn vẹn th́ phước đức biết mấy, tu mau thành Phật biết mấy. Chúng ta nhớ câu kệ của ngài Trần Nhân Tông nói “đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền”. Đối cảnh là mắt tai mũi lưỡi thân ư đều tiếp xúc với cảnh mà không có niệm phân biệt chạy theo, đó là vô tâm, đó là Thiền, là đại định. Hiện tại quí vị ngồi một chỗ ngó xuống mà c̣n nhớ chuyện này chuyện nọ, như vậy vô tâm chưa? Ngồi yên ngó xuống mà c̣n chưa vô tâm, chớ đừng nói đối cảnh. Bởi vậy chúng ta thấy thật xấu hổ, ḿnh chưa xứng đáng là đệ tử của Tổ sư.

Tăng Ni ngồi thiền mà không vô tâm là giết chết thời giờ vô ích. Khi ngồi thiền không cho phép suy nghĩ mà cũng cứ nghĩ, như vậy không phải giết chết thời giờ là ǵ? Cho nên chúng ta tu phải sáng suốt, quí báu thời giờ của ḿnh, đừng để hoang phí một cách vô ích. Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan hỏi Phật về căn bản phiền năo và căn bản Bồ-đề Niết-bàn, bấy giờ mười phương chư Phật “dị khẩu đồng âm”, phát ra câu nói: “Này A-nan căn bản phiền năo là sáu căn của ông, mà căn bản Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông.” Như vậy sáu căn là công mà sáu căn cũng là tội. Chúng ta phải dùng sáu căn thế nào cho nó thành căn bản Bồ-đề Niết-bàn, đừng dùng theo căn bản phiền năo luân hồi sanh tử.

 

CHÁNH VĂN:

 

Cốt yếu là chớ ở trên cái thấy nghe hiểu biết khởi phân biệt, cũng chớ ở trên cái thấy nghe hiểu biết mà động niệm, cũng chớ ĺa thấy nghe hiểu biết mà t́m tâm, cũng chớ bỏ cái thấy nghe hiểu biết mà nhận pháp. Không tức, không ly, không trụ, không trước, tung hoành tự tại đều là đạo tràng.

 

GIẢNG:

 

Chỗ này nói hết sức rơ. Cốt yếu là chớ ở trên cái thấy nghe hiểu biết khởi phân biệt, v́ như vậy là bệnh. Thấy nghe hiểu biết cứ thấy nghe hiểu biết thôi, đó là Thiền, là trở về bản tâm. Cũng chớ ở trên cái thấy nghe hiểu biết mà động niệm, phân biệt là động niệm. Nên biết lỗi ở cái thấy nghe hiểu biết liền khởi phân biệt, khởi động niệm. Cũng chớ ĺa thấy nghe hiểu biết mà t́m tâm, cũng chớ bỏ cái thấy nghe hiểu biết mà nhận pháp, chính cái thấy nghe hiểu biết là dụng của tâm, nên không thể ĺa nó t́m tâm. Phật nói: “Nhất tinh minh sanh lục ḥa hợp.” Lục ḥa hợp là sáu căn. Từ một nhất tinh minh khởi ra sáu ḥa hợp, th́ sáu ḥa hợp là dụng của nhất tinh minh. Nhất tinh minh là thể. Thấy nghe hiểu biết là dụng của nhất tinh minh, nó từ thể mà ra. Bỏ dụng t́m thể làm sao được?

Ví dụ ban đêm cái nhà có sáu cửa mở hoác, ở trong đốt đèn, ánh sáng phát ra nơi sáu cửa là ánh sáng của ngọn đèn. Nếu nh́n ánh sáng nơi cửa sổ th́ ánh sáng vuông, cửa cái th́ ánh sáng dài v.v… Nh́n qua cửa th́ thấy khuôn thế này thế nọ, nhưng ánh sáng một hay nhiều? Dáng phát ra sai biệt là v́ cửa lớn nhỏ khác nhau, chớ ánh sáng không hai. Muốn biết có đèn đang thắp sáng trong nhà th́ phải từ ánh sáng ở cửa phát ra. Cũng vậy, muốn nhận được tâm thể thanh tịnh sẵn có của ḿnh, phải nhờ sáu căn. Từ sáu căn có tánh biết mới nhận ra ḿnh có tâm thể tṛn đầy. Cho nên tu muốn được Bồ-đề Niết-bàn gốc từ sáu căn. Thấy cảnh vật biết vậy thôi chớ không động niệm, đó là Bồ-đề Niết-bàn. Nếu thấy người thấy cảnh khởi niệm suy nghĩ rồi thị phi, tham đắm v.v… đó là gốc của sanh tử.

 Cho nên ở đây nói “không tức, không ly”, không tức nơi sáu căn mà cũng không rời sáu căn. “Không trụ, không trước” không ở một chỗ, không dính mắc một chỗ. Như vậy mới gọi “tung hoành tự tại đều là đạo tràng”. Phật, Tổ nói không khác, đều chỉ dạy đến nơi đến chốn chỗ trọng tâm, ngay cốt tủy cho chúng ta thấy.

 

CHÁNH VĂN:

 

Người đời nghe nói “chư Phật đều truyền tâm pháp”, cho là trên tâm riêng có một pháp có thể chứng có thể thủ, bèn đem tâm t́m pháp.

 

GIẢNG:

 

Người đời nghe nói chư Phật đều truyền tâm pháp, như Phật truyền tâm pháp cho ngài Ca-diếp v.v… rồi cho rằng trên tâm có một pháp, đó là lầm lẫn. Pháp đó tức là tâm, nói truyền tâm tức là ấn chứng người đó nhận bản tâm đúng như thật, như Phật đă nhận, ấy gọi là truyền, là ấn chứng.

 

CHÁNH VĂN:

 

Họ không biết tâm tức là pháp, pháp tức là tâm, không thể đem tâm lại cầu tâm, trải ngàn muôn kiếp trọn không có ngày được.

 

GIẢNG:

 

Pháp và tâm thật sự không hai. Tâm tức là pháp, pháp tức là tâm. Nếu chúng ta lầm không nhận ra tâm đó, đi t́m cầu pháp, tưởng pháp là cái ǵ khác, không ngờ cũng là tâm của ḿnh. Như vậy t́m cầu đến muôn kiếp không biết chừng nào mới được.

 

CHÁNH VĂN:

 

Đâu bằng chính nơi đó vô tâm, tức là bản pháp.

 

GIẢNG:

 

Như vậy th́ hết sức gọn, chính nơi đó vô tâm. Nơi đó vô tâm là sao? Tức là ngay khi duyên theo cảnh, duyên theo trần mà ḿnh không dấy niệm chạy theo, không dấy niệm dính mắc th́ ngay đó là vô tâm. Mà vô tâm là bản pháp, tức pháp gốc.

 

CHÁNH VĂN:

 

Như người lực sĩ quên hạt châu trên trán, hướng ra ngoài t́m kiếm, chạy khắp mười phương trọn không thể được. Người trí chỉ cho, liền đó tự thấy bản châu như cũ.

 

GIẢNG:

 

Thí dụ như lực sĩ trên trán có hạt châu. Người ấy bỗng quên hạt châu trên trán, cứ chạy đầu này đầu nọ t́m hạt châu. Nếu có người trí thấy rơ hạt châu trên trán, chỉ cho anh ta, bấy giờ anh rờ lên trán liền đụng hạt châu, khỏi phải chạy t́m kiếm nữa. Trong nhà Thiền, các Thiền sư dùng đủ cách chỉ hoặc Phật tức là ông, hoặc Phật ở dưới gót chân ông v.v… Nói thế nghe dễ quá người ta không chịu, nên phải nói Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thần thông này kia họ mới chịu. Như vậy chạy t́m cực khổ hay đứng một chỗ nhận ra cực khổ? Vậy mà thiên hạ chịu cái khổ, không chịu ngồi lại nhận ra, rốt cuộc t́m hoài không ra chỗ chân thật.

 

CHÁNH VĂN:

 

Người học đạo mê bản tâm ḿnh không nhận là Phật, bèn hướng ra ngoài t́m cầu khởi công dụng hạnh, y thứ lớp chứng, nhiều kiếp cần cầu hằng không thành đạo.

 

GIẢNG: