|
Nói
xong, Sư tịch. Thật còn gì tuyệt
bằng ! Có thể nói, môn phong của
Sư được các thế hệ sau phát
triển rực rỡ và chuyển tiếp thành
dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đời
Trần sáng chói mãi về sau. Danh
Sư vì thế đã trở thành danh xưng
của Thiền viện Thường Chiếu non
một thế kỷ sau. Nơi đây - Thường
Chiếu - không chỉ ảnh hiện một
tấm gương sáng xa xưa cho người
sau theo dấu soi mình, mà với ý nghĩa
tròn đủ đó, Thường Chiếu
còn là phương châm, là sở nguyện
của Hòa thượng ân sư đối
với chư Tăng: " Phản quan tự kỷ,
bổn phận sự " - luôn tự soi chiếu
lại chính mình -. Ðây cũng chính
là cương lĩnh yếu chỉ của dòng
Thiền Việt Nam cuối thế kỷ 20 này.
DUYÊN
KHỞI THÀNH LẬP THIỀN VIỆN THƯỜNG
CHIẾU.
Vào những năm 73 -74, khi mở khóa thiền
thứ hai tại Tu viện Chân Không, Hòa
thượng nhận thấy Tăng ni về núi
tham học khá đông. Theo đó, nhu cầu
đời sống vật chất của chư
Tăng cũng được đặt ra. Biết
rõ điều ấy, hai Phật tử chủ
chùa Linh Quang (cũ) ở Cát Lở phát
tâm cúng dường thửa đất 52 mẫu
tại Xã Phước Thái - Huyện Long Thành,để
Hòa thượng lập Thiền trang. Nhận
thấy cơ duyên đã đến, Hòa
thượng liền tùy hỷ. Thiền viện
Thường Chiếu được ra đời
từ đó.
1. Giai đoạn đầu từ 1974 - 30/ 04/
1975: Thời sơ khai.
Ngôi chùa Thường Chiếu đầu tiên
là một căn nhà lá, mái tol, nằm
trơ vơ trên một dãy đất cát
trắng phếu với sỏi đá khô cằn.
Thầy Ðắc Huyền được Hòa
thượng bổ nhiệm làm lính tiên
phong - Trụ trì đầu tiên - với số
chúng là bốn vị. Mấy anh em xuống
núi trong giai đoạn này quả thật
là phải " cạp đất mà ăn
". Vì vậy Hòa thượng luôn động
viên, luôn tiếp sức qua những lần
về thăm. Thầy không chỉ dùng lời
mà còn cộng sự, cuốc đất trồng
khoai, thân giáo chư tăng. Bây giờ
ngồi mà nhớ lại hồi xưa, nếp
nhà tranh, ánh đèn dầu, khung trời
nắng cháy.Ai tới đây rồi cũng
phải ngao ngán. Thường Chiếu lúc
đó, không biết ra sao ở ngày mai ?
Song nhờ có Hòa thượng luôn yểm
trợ tinh thần, giúp chư tăng vượt
qua mọi khó khăn, giữ vững tâm nguyện
tu hành của mình, nên rồi tất cả
cũng kham nhẫn được. Vạn sự
khởi đầu nan. Xưa nay vẫn vậy.
Ðến 30 / 04 / 75, đất nước giải
phóng, lịch sử sang trang. Chư Tăng ni
cũng thay đổi cuộc sống tu hành của
mình theo nhịp đổi thay chung của đất
nước. Thế là Tăng ni của cả
hai viện Chân Không và Bát Nhã khóa
hai cùng xuống núi, về đây làm
ruộng rẫy. Thầy Phước Hảo và
Thầy Ðắc Pháp cũng có mặt trong
giai đoạn này để hướng dẫn
chúng tu học và lao động, Tuy nhiên,
thời gian chỉ có hai tháng thì giao lại
cho Thầy Nhật Quang làm Huynh Trưởng.
Ngẫm lại trong cuộc vô thường,
bể hóa cồn dâu có khác gì nhau.
Cũng chỉ đùa mà thôi.
2.
Giai đoạn hai từ 1975 - 1986:
Thời vượt khó.Năm 1975, Thầy Nhật
Quang lãnh trách nhiệm Huynh Trưởng với
tổng số chúng là 20 vị. Hòa thượng
cho cất thêm một tăng đường
bằng lá và cái thất sàn cũng
bằng lá, nép mình khiêm cung bên bụi
tre hồi đó chính là phương trượng
của Thầy bây giờ.Thanh Qui Bách Trượng
được áp dụng từ đây. Nhất
nhật bất tác, nhất nhật bất thực
( một ngày không làm, một ngày không
ăn ).
Tu, học và lao động trở thành ba
yếu tố căn bản không thể thiếu
của Thiền sinh Thường Chiếu và các
Chiếu phụ cận ra đời tiếp theo
sau như Viên Chiếu (1975), Linh Chiếu (1980)
. Việc tu được Hòa thượng
cụ thể hóa như hơi thở, việc
học như uống nước, việc làm
như ăn cơm. Một trong ba đều cần
thiết đối với đời sống tu
học của Thiền sinh. Ðể chấn
chỉnh môn phong trong giai đoạn này, Hòa
thượng Viện Trưởng đã sửa
đổi bản Thanh Qui Chân Không, cho ra đời
bản Qui Ước áp dụng chung cho các
Thiền viện. Tinh thần tu, học và lao
động tuy phôi thai
nhưng đã gầy dựng được
một sức sống mới trong tăng đoàn.
Sức sống ấy đã được Thiền
tăng chuyển tải trên đồng khô
ruộng cạn, trên từng nhát cuốc đường
cày, lúc đẩy xe kéo củi, khi đào
giếng khoét mương.khắp trong bạn
lứa anh em, đâu đâu cũng hùng
hồn vang vọng như một hành khúc:
Một ngày không làm là
một ngày không ăn,
Có đâu chỉ ngồi mới là thiền
tăng,
Trâu đen rồi đây sẽ thành trâu
trắng,
Chẳng phí đi kiếp người mới
thật là Tăng.
Với một bối cảnh kinh tế ngặt
nghèo như vậy, Tăng ni phải lao động
để duy trì sự sống, nên công
phu tu tập hẳn nhiên bị trì trệ.Sau
một ngày sinh hoạt nặng nhọc, anh em
không sao tránh khỏi sự mệt mỏi
lúc về đêm.
Những buổi thiền tọa vì thế chỉ
là những buổi ngủ ngồi, gật gà
gật gưỡng trông thật thảm. Vì
vậy, thiền tăng nào không đủ
niềm tin với pháp môn, chưa vững
chắc công phu tu học thì dễ thối
lui bỏ cuộc. Ngược lại, với những
ai đủ nghị lực, giàu ý chí
thì đây chính là môi trường
tốt cho một cuộc đọ sức.
Lần đó,
Thầy Nhật Quang vào thăm Viên Chiếu.
Lắng nghe câu chuyện tu học và làm
việc của quí cô, Thầy nể quá.
Giữa rừng hoang hẻo lánh, nước
độc suối sâu, mấy huynh đệ
là phái yếu lại dám đương
đầu với sơn lam chướng khí,
đói rét nắng mưa. quần tụ
bên nhau, san sẻ từng chút khổ vui để
được yên sống tu hành. Lần
đó trở về, Thầy đã ghi vào
nhật ký câu này: " Quạnh hiu là
thước đo của tâm hồn ", để
tự răn mình và cũng để đánh
dấu một thời của huynh đệ đồng
tu.
Vì nặng về lao động nên những
năm này, việc tu tập của Tăng ni
không tiến triển bao nhiêu. Hòa thượng
luôn trăn trở điều này. Bởi
vì nếu Tăng ni không có niềm vui,
bước đường tu nhất định
sẽ thối khuất. Thế nên, dù còn
nhiều khó khăn nhưng Thầy vẫn cố
gắng cho ra đời các thiền thất,
nhằm tạo điều kiện cho thiền
sinh sau một thời gian nhọc nhằn, có
được nơi yên tỉnh, có thì
giờ, để hạ thủ công phu tu hành.
Thật vậy, từ khi có các thiền
thất, tinh thần tu tập của Tăng ni
phấn chấn hẳn lên, kết quả thấy
rõ. Hòa thượng rất vui và Ngài
cả quyết " Tăng ni có tu là có
tiến ". Cho nên dù đường lối
tốt mà không đủ duyên thì việc
tu tập cũng không thể thành công
được. Nhưng rồi vào những
năm kế tiếp 78, 79, 80; hoàn cảnh xã
hội bên ngoài biến chuyển, việc
họp chúng đông đảo tu học
càng gặp nhiều trở ngại hơn nữa.
Ðể thích nghi với hiện tình, bản
Qui Ước lại một lần nữa chuyển
sang chế độ Trụ trì.
Ðầu năm 80, Thầy Thiện Phát từ
chùa Linh Quang về Thường Chiếu thay
thế Thầy Nhật Quang lãnh trách nhiệm
Trụ trì vì Thầy Nhật Quang sẽ
nhập thất. Thời gian từ 80 - 85 là
đỉnh cao của những năm cam go và
thử thách của Thiền viện. Số
thiền sinh giảm dần xuống, có khi chỉ
còn khoảng 10 vị, kể cả Trụ trì.
Hòa thượng cũng khó tới lui. Thường
Chiếu lại quạnh hiu, côi cút từng
ngày. Hồi tưởng những năm tháng
này, quả là:
Thương hải tang điền
rộn đổi thay,
Lầu sò chợ bể gợn u hoài.
Nhưng, có thế cũng là hay. Bởi vì
dòng đời luôn sinh động và
luân lưu biến hóa không cùng. Phải
ở trong đó mà nghiệm lấy mới
thẩm thấu được hai chữ " vô
thường " nhi " hữu thường ".
Vạn pháp cứ thế tạm đến
tạm đi, thì Thường Chiếu chợt
đổi chợt thay, cũng có lạ gì
đâu ?
3-Giai
đoạn ba từ 1986 - 1993:
Thời chuyển mình.Ngày 18 / 03 Âl (1986),
Phật xuống núi, Thầy xuống núi,
vì Chân Không nằm trong khu quân sự
nên bị giải tỏa. Tăng ni và Phật
tử cùng trở về chùa gốc, tháo
gở từng tấm tol, từng viên gạch,
chuyền nhau xuống núi. Hai mươi năm
gầy dựng, thoáng một phút mất
tâm.
Hôm ấy
rời núi, Hòa thượng đã gởi
lại mộ cha. Ông vẫn còn trên đó
để mà gẫm cái lẽ Sắc Không,
hợp tan trong cõi tạm. Ngày 24 / 03, Thầy
đóng mốc đắp đất làm
nền cho ngôi Chánh điện Thường
Chiếu, mà thật ra là của Chân Không
dời về. Ngày 15 / 04 Khánh thành
Chánh điện Thường Chiếu. Như
vậy chỉ trong khoảng chưa đầy
20 ngày, tất cả đều đổi thay.
Chân Không mà Thường Chiếu.
Kể từ đây, một luồng sinh khí
mới thổi về miền đất cháy.
Thiền viện mới thật sự hiện
diện đúng với tên gọi của
mình. Hòa thượng Viện Trưởng
chánh thức chấn tích khai đạo tại
đạo tràng Thường Chiếu, trực
tiếp hướng dẫn Tăng ni Phật tử
tu thiền. Thường Chiếu và các Chiếu
phụ cận như được hồi sinh.
Tăng chúng lên dần tới 100 vị.
Lúc này, Thầy Nhật Quang đã đương
nhiệm Trụ trì trở lại.
Ðến đây, hoàn cảnh xã hội
bên ngoài cũng đang trên đà phát
triển. Có thể nói: " Ðất nước
Việt Nam đang hồi đi lên để
gầy dựng một xã hội văn minh dân
giàu nước mạnh ". Từ đó,
cơ sở vật chất của các Viện
cũng được mười phương
đàn tín hổ trợ xây dựng lại
tương đối ổn định. Thường
Chiếu từng phút từng giây thay da đổi
thịt.
Vào cuối năm 1989, Hòa thượng làm
Trưởng đoàn cùng một số Tăng
ni Phật tử ra Bắc viếng thăm các
thắng tích danh lam, đồng thời cũng
để sưu tập thêm các tư liệu
về Thiền tông của Phật Giáo Việt
Nam còn rải rác ở các trung tâm
ngày xưa như Luy Lâu, chùa Kiến Sơ,
Trúc Lâm Yên Tử v.v. Chuyến đi
thành công. Với tư liệu và số
hình ảnh đã thu thập được,
không bao lâu sau quyển Thiền sư Việt
Nam được tái bản với phần
bổ khuyết tương đối hoàn bị.
Và tiếp theo đó, quyển Thiền Tông
Việt Nam cuối thế kỷ 20 ra đời,
chánh thức công khai hóa đường
lối tu Thiền của các Thiền viện
trực thuộc hệ thống hướng dẫn
của Hòa thượng. Một bước
ngoặt mới trong lịch sử Thiền tông
nước nhà thời hiện đại được
mở ra.
Số Phật tử tham học tu thiền phát
triển ngày càng mạnh. Các đạo
tràng lần lượt xuất hiện tại
Thành phố Hồ Chí Minh như Thái Tuệ,
Tuệ Tâm, Tâm Ðức. mở đầu
cho những đạo tràng sau này ở miền
Trung như Sen Hồng, Sen Xanh. cùng quy hướng
về Hòa thượng tu thiền. Có thể
nói, con đường hoằng pháp đến
đây đã hanh thông.
Năm
1990, do nhu cầu tham học của Phật tử
lên quá cao nên Hòa thượng cho phép
trùng tu điện Phật, Tổ đường,
cất thêm giảng đường, thiền
thất và toàn bộ cơ sở nhà Tăng,
thư viện. Ngoài ra, khu ngoại viện
cũng được mở rộng cho chư Tăng
ni lớn tuổi nương về tu tập. Số
thiền thất khu ngoại viện bấy giờ
lên đến trên 100 ngôi.
Trong
đó, Bửu Sơn dẫn đầu nhưhậu
thân của vùng Sơn thất. Thường
Chiếu đã vượt qua những gian lao
thử thách và hôm nay đã sừng
sững trưởng hành với thế vững
chắc trang nghiêm của mình. Thường
Chiếu ! Tự bản thân nó đóng
một vai trò như ánh đuốc trong đêm
đen, giúp cho bao kẻ lạc bước kịp
thời thấy lối quay về. Phật tử
Từ Âm trong một lần xúc cảm đã
viết lời này: - " Thường Chiếu
là nơi tổ ấm của những ai lạc
loài."
Dưới sự chỉ giáo, chăm chút
kỷ lưỡng của Hòa thượng, huynh
đệ đã vỡ khóc vỡ cười
sau những lần nhập thất chuyên tu. Kết
quả ấy đã đem lại nguồn an
ủi cho Thầy và đồng thời cũng
là niềm khích lệ lớn lao cho tất
cả huynh đệ đồng tu. Tăng ni vui
sống hài hòa, cùng một lý tưởng,
một pháp tu, một Ân sư, đùm bộc
gắng gổ bên nhau, miệt mài công phu.
Niềm vui sáng đạo thì chưa dám
tự hào, nhưng trong thâm tâm mỗi thiền
sinh nơi đây, một ngày sống là
xứng đáng một ngày. Mỗi ngày
qua không phí uổng kiếp người, không
tăm tối ngược xuôi bắt bóng
đuổi hình. Thiền tăng với một
quyết tâm thực hiện cho bằng được
lý tưởng tối hậu là làm người
" vô sự " mới chịu thôi.
Ðồng cảm với nguồn vui ấy, trong
một lần họp mặt huynh đệ, Thầy
Trụ trì đã để lại trong lòng
anh em câu nói đầy đạo tình:
- " Dù gian khó, ta hằng sống trong hòa
khí trong an lành. Dù vui sướng, ta thường
nhắc mau dừng bước lang thang này."
Với niềm tin và tình thương ấy,
Thường Chiếu đã tự sáng soi
và soi sáng khắp nơi ánh thiền quang
rạng ngời.
Khoảng năm 1991 - 1992, Hòa thượng thường
lên Ðà Lạt vào những mùa nắng
vì Thường Chiếu rất nóng. Nhận
thấy khí hậu cao nguyên thích hợp
cho người tu thiền, Hòa thượng liền
khởi niệm thành lập Thiền viện
chuyên tu trên đó. Ðáp lại hoài
vọng ấy của Thầy, Tăng ni và các
Phật tử chung sức chung lòng lo lắng
xin phép giấy tờ. Ðến năm 1993, Ni
sư Huệ Hạnh báo tin được Trúc
Lâm. Thầy trò vui mừng khởi sự xây
dựng Thiền viện Trúc Lâm ngay lập
tức.
Song song với việc kiến lập Thiền viện
Trúc Lâm, Hòa thượng quyết định
trùng tu lại chánh điện Thường
Chiếu. Ðồng lúc ấy, Thầy thực
hiện một chuyến Tây du, vừa để
viếng thăm Tăng ni Phật tử bên đó,
vừa để trị luôn bệnh tim. Ngày
Rằm tháng 10 năm ấy (1993), Thầy trở
về nước niêm hương An vị Phật
và khánh thành Chánh điện Thường
Chiếu. Chư sơn đồng câu hội,
khói trầm xông tỏa; Thường Chiếu
uy nghi và hùng dũng, rờ rỡ giữa
trời không.
4-Giai
đoạn bốn từ 1993 trở về sau:
Thường Chiếu ngày nay.Năm 1994 Khánh
thành Thiền viện Trúc Lâm. Thiền
tăng Thường Chiếu lại một lần
nữa phấn phát lên đường. Lúc
này, tổng số chúng tại đây lên
đến 150 vị. Trên 40 huynh đệ được
Hòa thượng tuyển đưa vào Nội
viện Trúc Lâm - Ðà Lạt. Thật
là một diễm phúc lớn lao vô cùng.
Bởi
vì Thiền viện Trúc Lâm ra đời
được xem như là lý tưởng
tối hậu của Thầy. Thầy từng nói:
- " Tôi bao giờ cũng nghĩ đến
trách nhiệm của mình. Làm sao cho Tăng
ni tu hành đến nơi đến chốn.
Sáng được việc lớn trong hiện
đời là nguồn hạnh phúc vô biên
của Tăng ni mà cũng là hoài bảo
tha thiết nhất của đời tôi. "
Chân tinh thần của dòng thiền Trúc
Lâm - Yên Tử được phục hồi
sau một thời gian ngót 700 năm vắng bóng.
Ðây là một dòng thiền chính thống
Việt Nam, xứng đáng để cho hàng
Tăng sĩ chúng ta tự hào về một
thiền phái của người Việt Nam; vừa
liễu ngộ Phật pháp, vừa làm tròn
bổn phận đối với quốc tổ
và dân tộc. Các vua Trần ở trên
ngôi cửu nghi, nhưng tấc lòng lúc
nào cũng hướng về chốn thiền
môn, thích cảnh thanh thoát cao nhàn, thường
dạo chơi trong núi sâu rừng thẳm,
không ưa vương bổng buộc ràng.
Tuy nhiên khi đất nước gặp cơn
binh biến, vua tôi đã chung sức chung lòng,
hy sinh tất cả để giữ vững giang
sơn gấm vóc. Ðứng trước thế
lực như vũ bảo của ngoại xâm,
triều đình lãnh đạo toàn dân
xông pha đuổi giặc, không trốn tránh,
không khiếp nhược, luôn giữ thế
tự chủ, độc lập về mình. Lịch
sử chống ngoại xâm của nước
ta, thật không thời nào hiển hách
vang dội như những chiến công oanh liệt
đời Trần. Trúc Thiên, một học
giả Thiền đã tán dương thật
trọn vẹn điều này trong một đoạn
thơ của mình :
Ðường đi lên có
Trần Triều Thái Tổ
Tay khiển trượng thiền tay vó câu
Thế đạo suy vi, cường khấu ngặt
Ngàn xưa đuốc tuệ rạng ngàn
sau.
( Ðường đi lên - Trúc Thiên )
Vì vậy, việc khôi phục lại tinh
thần Thiền tông đời Trần cũng
có thể xem là một bổn phận chung
của hàng Tăng sĩ Việt Nam vậy.
Năm 1996, được tin phục hồi Chân
Không. Quả là chim bay về tổ, nước
chảy về nguồn. Tăng ni lại cùng
nhau thướng sơn. Phải chăng Thiền
tông đã tới hồi sống dậy thật
rồi ? Nhưng cũng vì thế, Hòa thượng
lại càng nhọc nhằn nhiều hơn. Vừa
trực tiếp chăm lo cho chư Tăng ni tại
Thiền viện Trúc Lâm, vừa phải về
đây giảng dạy cho Tăng ni các thiền
viện và Phật tử, đồng thời
lo lắng mọi việc cho Chân Không mới
được phục hồi. Rồi lại còn
phải về Thành phố dạy Thiền tại
Ðại học Vạn hạnh, chùa Ấn
Quang, chùa Xá Lợi. Hòa thượng
đã tận tụy hy sinh vì tứ chúng
mà quên thân mình. Hàng đệ tử
trong môn hạ nhìn thấy việc làm của
Thầy ai cũng xót xa, mà không biết
bao giờ mới có thể đảm đương
gánh vác cùng Người ?
Phật tử bốn phương tụ hội
về Thường Chiếu ngày càng đông
đảo, Tổ đường không còn
chỗ dung. Vậy là năm 1998, Hòa thượng
lại một lần nữa đại trùng
tu Tổ đường Thường Chiếu.
Nhờ sự quan tâm giúp đỡ của
các cấp chính quyền, Mặt trận,
Ban tôn giáo, Tỉnh hội Phật giáo
và sự ủng hộ nhiệt thành của
Tăng ni, Phật tử gần xa nên chỉ
trong vòng bốn tháng, ngôi Tổ đường
trang nghiêm tráng lệ được hoàn
thành.
Thường
Chiếu có thể xứng đáng gọi
là Tổ đình để phục hưng
dòng Thiền Việt nam cuối thế kỷ
20 rồi. Thành tựu này nếu không
nhờ Phật lực gia bị thì thật
không thể ngờ. Cho nên Hòa thượng
vẫn luôn nhắc nhở:
- Phước báo hạnh nghiệp đều
do nơi công đức huân tu mà ra. Ngày
nay các Thiền viện đã được
sung mãn, chư Tăng ni càng phải đem
hết tâm huyết tu hành. Có thế mới
mong đền đáp được tứ
ân trong muôn một. Nếu không như
vậy, quyết phải rơi vào các đường
để trả lại nợ trước.
Ðến đây, việc kiến thiết
việc tu tập đã vào nề nếp.
Hòa thượng bắt đầu để
tâm vào văn hóa. Thầy những mong
phải dịch thuật và giảng dạy
tất cả kinh sách, ngữ lục của
các Thiền sư Việt Nam, để kết
tập thành một tủ sách Thiền học
Việt Nam; nhằm khêu sáng trở lại
nền văn hóa thiền học nước
ta từ nghìn xưa, cho Tăng sĩ Việt
Nam nối bước các bậc tiền bối,
tiếp tục thực hiện sứ mạng truyền
đăng tục diệm của mình. Ban văn
hóa Thường Chiếu ra đời vào
năm 1998. Dưới sự lãnh đạo
của Hòa thượng, toàn bộ sự
nghiệp dịch thuật và trước tác
của Thầy được chỉnh đốn
và bổ khuyết thêm cho hoàn bị.
" Phản quan tự kỷ bổn phận sự,
bất tùng tha đắc" một lần
nữa lại được tuyên dương
như là kim chỉ nam cho Tăng ni tất cả
các Thiền viện. Thanh Quy mới được
ra đời, thống nhất đường
lối và chủ trương tu Thiền của
các Thiền viện thuộc thiền phái
Trúc Lâm cuối thế kỷ 20. Thường
Chiếu bây giờ là đàn anh của
các Chiếu. Vì vậy chư Tăng nơi
đây càng phải ý thức trách
nhiệm là người đi đầu của
mình. Sự tu học và sinh hoạt hàng
ngày phải được thể hiện trong
phong cách của một hành giả thực
tu thực học. Giờ này, không còn
gì để thiền tăng luận bàn
hay do dự nữa, chỉ một việc thẳng
tiến lên đường. Ðó cũng
là tất cả những gì Hòa thượng
ân sư của chúng ta mong mỏi nhất.
|